phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo luận văn được trình bày trong 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận về quản lý hoạt động cố vấn học tập cho sinh viên trong các trường cao đẳng. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động cố vấn học tập cho sinh viên tại trường Cao đẳng Kinh tế Công nghệ Hà Nội. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động cố vấn học tập cho sinh viên tại trường Cao đẳng Kinh tế Công nghệ Hà Nội. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÁC HOẠT ĐỘNG CỐ VẤN HỌC TẬP CHO SINH VIÊN TRONG CÁC TRƢỜNG CAO ĐẲNG 1.
Tổng quan nghiên cứu 1. Những nghiên cứu trên thế giới Có nhiều hình thức hỗ trợ người học rất đa dạng, trực tiếp cũng như gián tiếp, trong chính khóa cũng như trong các chương trình ngoại khóa, trong trường lớp cũng như ngoài lớp học, qua đội ngũ giảng viên cũng như qua các đội ngũ hỗ trợ khác, trong đó có việc các trường thành lập đội ngũ CVHT. Bất kỳ lĩnh vực hoạt động nào khi xác định được chức năng, nhiệm vụ và có thể kiểm tra, đánh giá được đều cần có lý thuyết, hay quan điểm nhìn nhận về nó. Cũng như vậy, công tác CVHT không thể triển khai mà không cần đến nền tảng lý thuyết ban đầu.
Để xây dựng được một hệ thống CVHT hiệu quả, nhiều các tổ chức hoạt động giáo dục, các trường đại học trên thế giới đã nghiên cứu lý luận kết hợp cùng thực tiễn để đưa ra mô hình đội ngũ CVHT tối ưu. Phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ là một loại hình đào tạo có nhiều ưu điểm và mang lại hiệu quả cao, ra đời và được áp dụng đầu tiên vào năm 1872 tại Trường Đại học Harvard của Mỹ. Từ đó, mô hình này được phát triển rộng khắp trên thế giới và được coi là mô hình đào tạo tiên tiến nhất cho đến nay. Phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ đòi hỏi phải có hệ thống cơ sở vật chất và kỹ thuật tốt, cùng với đội ngũ giảng viên có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao; trong đó không thể bỏ qua vai trò của CVHT.
Theo King, 2005; MCKewen, 2003, cho rằng việc tìm kiếm và áp dụng nhiều lý thuyết tiếp cận từ góc độ khoa học phát triển, từ các khoa học trong lĩnh vực xã hội – nhân văn, từ thực hành giáo dục,. sẽ giúp các CVHT nắm được một cách đầy đủ sự phát triển tâm – sinh lý và xã hội của SV, nhìn nhận 6 sâu sắc hơn những vấn đề của SV. Có thể kể ra một số lý thuyết cụ thể đã đem lại hiệu quả cho hoạt động CVHT, đó là lý thuyết về phát triển tâm lý – xã hội của con người, thuyết phát triển nhu cầu, thuyết phát triển văn hóa xã hội,. Để tiếp cận với hoạt động của CVHT, các nhà nghiên cứu còn vận dụng các lý thuyết ứng dụng trong giáo dục, quản lý, trong tham vấn.
Các lý thuyết này giúp cho CVHT tiếp cận SV một cách toàn diện. Hendey (1999) đã cho rằng, thực tế có quá nhiều lý thuyết phát triển khác nhau ứng dụng cho hoạt động CVHT, nhưng chúng đều đưa ra một cách hiểu chính xác chung nhất về cố vấn phát triển hơn là gây khó khăn cho hoạt động cố vấn trong trường học. Các CVHT không nên bị sa lầy vào một lý thuyết phát triển cụ thể nào mà cần có hiểu biết về một vài lý thuyết phát triển cụ thể để ứng dụng trong công việc của mình. Ở Mỹ, CVHT được hiểu là nhà tham vấn hoặc một thành viên làm việc trong khoa của trường ĐH, người được đào tạo để chuyên trợ giúp SV trong việc cung cấp thông tin về đào tạo để SV có thể thích ứng trong lớp học và đạt mục tiêu học tập [25].
Ở Pháp, Trường đại học Toulouse Le Mirail cho rằng: “Cố vấn học tập là người đi theo và giúp đỡ cho sinh viên trong suốt năm đầu tiên ở giảng đường đại học. Thông qua các buổi gặp mặt trực tiếp hoặc trao đổi gián tiếp với sinh viên, cố vấn học tập có vai trò tư vấn cho sinh viên trong việc xây dựng kế hoạch học tập. Ngoài ra họ cũng giúp cho sinh viên về mặt xã hội một cách tốt nhất trong môi trường giáo dục đại học” [21]. Ở Úc, Cố vấn học tập theo định nghĩa của Đại học Victoria là: “Cán bộ của phòng hỗ trợ sinh viên, là những người cung cấp thông tin, tư vấn và giới thiệu, trợ giúp cho sinh viên trong các vấn đề trọng điểm và các quy trình ở bậc đại học có ảnh hưởng đến họ.
Theo yêu cầu của sinh viên, Cố vấn học tập còn là người đại diện, lắng nghe các vấn đề của sinh viên liên quan đến quá trình học tập, những bất bình và phương pháp rèn luyện” [30]. 7 Năm 1994, Raja Roy Singh- nhà giáo dục người Ấn Độ, trong cuốn sách “Giáo dục thế kỷ XX: Những triển vọng của châu Á Thái Bình Dương” đã nghiên cứu vai trò của tự học của người học và đề cao vai trò chuyên gia cố vấn của người thầy trong học tập thường xuyên và học tập suốt đời, trong việc hình thành và phát huy năng lực tự học của người học [24]. Theo các tác giả Pardee (2000), và Habley (1983) nghiên cứu hoạt động CVHT trong các trường đại học ở Mỹ và đã phân loại thành ba dạng mô hình cố vấn học tập là mô hình phi tập trung, tập trung và chia sẻ. Mô hình phi tập trung (Decentralised model): hoạt động CVHT được thực hiện bởi các GV và nhân viên trong các khoa.
Mô hình phi tập trung được nhắc đến nhiều là mô hình chỉ có một thành phần - đó là khoa và mô hình vệ tinh. Mô hình tập trung (Centralised model): một đội ngũ CVHT sẽ tư vấn cho SV trong suốt quá trình học tập tại trường, từ khi bắt đầu nhập học cho tới lúc ra trường. Do đó ở các khoa, trường không có CVHT nữa. Việc tư vấn cho tất cả SV (từ tuvển sinh đầu vào đến việc bắt đầu khóa học) được thực hiện bởi nhân viên của văn phòng cố vấn.
Mô hình chia sẻ (Shared model): hoạt động CVHT được chia sẻ giữa những đơn vị trung tâm và các GV hoặc nhân viên ở các khoa [32]. Như vậy có thể thấy các nước trên thế giới đều thấy được vai trò, cũng như tầm quan trọng của hoạt động CVHT đối với sinh viên, đối với chất lượng đào tạo của nhà trường. Đội ngũ CVHT ngoài kinh nghiệm chuyên môn, họ còn được cử đi tập huấn, đào tạo về công tác tư vấn, tham vấn, quản lý học vụ… để giúp sinh viên xây dựng kế hoạch học tập hiệu quả. Các nghiên cứu trong nước Công tác CVHT có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy và học nói riêng, chất lượng giáo dục ở bậc ĐH theo học chế tín chỉ nói chung.
Thông qua công tác tư vấn, người CVHT vừa hướng dẫn và cung cấp thông tin vừa đồng hành, hỗ trợ sinh viên trong học tập và rèn luyện. Khi đề 8 cập đến công tác CVHT (nhiều trường ĐH, CĐ Việt Nam sử dụng các tên gọi khác nhau cho vị trí cố vấn học tập như tư vấn học tập/giáo viên chủ nhiệm/trợ lý sinh viên) ở trường ĐH đã có một số tài liệu, công trình nghiên cứu, hội thảo tìm hiểu, phân tích, có thể kể đến các công trình, tác giả sau: Tác giả Nguyễn Thanh Sơn với đề tài “Đổi mới công tác quản lý cố vấn học tập tại các trường Đại học ngoài công lập”, đề tài đã phân tích những yêu cầu cần đặt ra trong hoạt động quản lý đội ngũ CVHT, phân tích thực trạng và đề xuất 5 biện pháp quản lý, trong đó đề cao vai trò của biện pháp “Đổi mới việc phân công nhiệm vụ cho đội ngũ CVHT” [25]. Tác giả Nguyễn Thị Đông (2012) đã trình bày trong báo cáo“Vai trò của CVHT theo hệ thống tín chỉ của Học viện Chính sách và Phát triển”, xét từ vai trò, nhiệm vụ và yêu cầu đối với CVHT, người CVHT cần như một chuyên gia tư vấn về học tập và việc làm cho sinh viên, là bạn đồng hành cùng sinh viên trong suốt quá trình học tập [7]. Tác giả Đào Ngọc Cảnh (2011), với bài tham luận về “Nâng cao vai trò của cố vấn học tập trong đào tạo theo tín chỉ” cũng đưa ra nhiệm vụ của đội ngũ CVHT nhưng tác giả tiếp cận một cách tổng quát.
Tác giả cho rằng CVHT có ba nhiệm vụ đó là: tư vấn sinh viên trong lĩnh vực học tập, thực hiện việc đánh giá kết quả rèn luyện sinh viên từng học kỳ, tư vấn sinh viên các lĩnh vực khác. Trong ba nhiệm vụ trên, tác giả đặc biệt nhấn mạnh nhiệm vụ tư vấn cho sinh viên trong học tập. Tác giả cho rằng tư vấn, hướng dẫn sinh viên lập kế hoạch học tập và đăng ký học phần một cách hợp lý, phù hợp với năng lực và điều kiện của từng sinh viên là công việc khó khăn và phức tạp [4]. Cố vấn học tập có vai trò rất quan trọng trong hoạt động đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở trường đại học.
Hoạt động của CVHT tác động trực tiếp đến thành tích học tập và rèn luyện của SV. Thông qua hoạt động CVHT, SV có thể nắm bắt thông tin một cách nhanh nhất và cụ thể về quy chế, chương trình đào tạo, mục tiêu, nội dung đào tạo, các chức năng, nhiệm vụ, định hướng 9 phát triển của nhà trường [8]. Để sinh viên thích nghi được với hình thức đào tạo tín chỉ, các trường Đại học cũng đã thành lập đội ngũ CVHT để hỗ trợ sinh viên. Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động hỗ trợ, tư vấn của đội ngũ này chưa thực sự mang lại hiệu quả cao, vì vậy có nhiều tác giả trong nước đã đi nghiên cứu, đánh giá thực trạng và đề xuất nhiều biện pháp quản lý hoạt động CVHT.
Cụ thể: Tác giả Phạm Thị Nhung (2023) nhận định đội ngũ cố vấn học thuật đóng một vai trò quan trọng trong hệ thống dựa trên tín chỉ vì nó hỗ trợ sinh viên phát triển các mục tiêu giáo dục, nghiên cứu và nghề nghiệp trong quá trình học đại học. Bài viết trình bày kết quả nghiên cứu về thực trạng đội ngũ cố vấn học thuật và đề xuất giải pháp phát triển đội ngũ cố vấn học thuật tại Trường Đại học Đồng Tháp, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Trường [19]. Tác giả Nguyễn Thị Bích Hạnh (2022) đã làm rõ thực trạng hoạt động tư vấn của CVHT tại trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 98 CVHT và 378 SV.