MỞ ĐẦU. Lý do chọn đề tài. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài. Ý nghĩa của nghiên cứu.
Định nghĩa phƣơng pháp giảng dạy và động lực học tập. Câu hỏi nghiên cứu. Giả thuyết nghiên cứu. Phạm vi nghiên cứu.
Khách thể, đối tƣợng nghiên cứu. Khách thể nghiên cứu. Đối tƣợng nghiên cứu. Địa điểm và bối cảnh nghiên cứu.
Động lực học tập và động cơ học tập. 17 Chƣơng 1: TỔNG QUAN. Phƣơng giáp giảng dạy nói chung và phƣơng pháp giảng dạy tiếng Anh. Động lực học tập nói chung và động lực học tiếng Anh.
Mối liên hệ giữa phƣơng pháp giảng dạy và động lực học tập ngƣời học. 28 Chƣơng 2: MÔ HÌNH LÝ THUYẾT .30 Chƣơng 3: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Phƣơng pháp tiếp cận nghiên cứu. Kích thƣớc mẫu và các thức chọn mẫu.
Mô tả mẫu. Phân tích dữ liệu. Công cụ thu thập dữ diệu. Quy trình nghiên cứu.
49 Chƣơng 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU. Kết quả nghiên cứu .1 Phƣơng pháp giảng dạy và hành vi học tiếng Anh tại lớp. Phƣơng pháp giảng dạy và hành vi học tiếng Anh ngoài lớp học. Phƣơng pháp giảng dạy và thái độ học tiếng Anh.
Thảo luận kết quả nghiên cứu. Hạn chế của nghiên cứu. 68 TÀI LIỆU THAM KHẢO. Tài liệu tiếng Việt.
Tài liệu tiếng Anh .74 Phụ lục 1: Báo cáo khảo sát sơ khởi-khảo sát giáo viên và phỏng vấn nhóm sinh viên. 74 Phụ lục 2: Bảng hỏi khảo sát giáo viên bộ môn tiếng Anh-khối ngành kinh tế về phƣơng pháp giảng dạy cho khảo sát sơ khởi. 83 Phụ lục 3: Bảng hỏi phỏng vấn nhóm nhỏ sinh viên-khối ngành kinh tế cho khảo sát sơ khởi. 91 Phụ lục 4: Bảng hỏi khảo sát ý kiến sinh viên về ảnh hƣởng của phƣơng pháp giảng dạy đến động lực học tiếng Anh của sinh viên năm thứ nhất-khối ngành kinh tế đại học Văn Lang.
93 Phụ lục 5: Bảng các ý kiến của sinh viên về ảnh hƣởng của phƣơng pháp giảng dạy đến động lực học tiếng Anh của sinh viên năm thứ nhất-khối ngành kinh tế đại học Văn Lang. 98 2 z CÁC CHỮ VIẾT TẮT GV Giáo viên SV Sinh viên AV Anh văn TA Tiếng Anh PPGD Phƣơng pháp giảng dạy PP Phƣơng pháp ĐHVL Đại học Văn Lang KT Kinh tế HK Học kỳ SL Số lƣợng 3 z DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 3.1: Tiêu chuẩn chọn GV tham gia nghiên cứu .2: Tỉ lệ phân bố SV theo trình độ và nhóm GV trên dân số .3: Tỉ lệ phân bố SV theo trình độ và nhóm GV trên mẫu .1: So sánh hành vi học TA tại lớp giữa 2 nhóm SV .2: So sánh hành vi học TA ngoài lớp học giữa 2 nhóm SV .3: So sánh thái độ học TA giữa 2 nhóm SV. 63 4 z DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1.1: Mô hình giảng dạy lấy người học làm trung tâm .2: Quy trình của mô hình Nghiên cứu hành động .1: Mô hình ARCS về thiết kế động lực .1: So sánh hành vi học TA tại lớp giữa 2 nhóm SV .2: So sánh hành vi học TA ngoài lớp học giữa 2 nhóm SV .4: Tóm tắt kết quả nghiên cứu. Lý do chọn đề tài Theo Báo Thanh Niên (2006): “Cộng đồng sử dụng tiếng Anh trên toàn cầu đã lên đến con số gần 2 tỷ ngƣời.
Các kho tài liệu, thƣ viện, báo cáo khoa học, phát minh… đƣợc viết hoặc dịch sang tiếng Anh để phổ biến rộng rãi. Hơn 10 tỷ trang web trên thế giới có sử dụng tiếng Anh làm phƣơng tiện truyền thông, quảng bá, trao đổi thông tin, học tập và nghiên cứu”. Cƣơng lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011 của Ðại hội XI của Ðảng Cộng sản Việt Nam) đã xác định một trong những phƣơng hƣớng cơ bản phải là chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Sự thật là chúng ta đã tham gia vào một sân chơi thế giới khi chính thức gia nhập WTO năm 2006.
Tiếng Anh trở thành một giải pháp hữu hiệu để làm giàu kiến thức, học tập suốt đời, mở rộng cơ hội giao lƣu quốc tế, tạo nên chất lƣợng của nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay. Chính vì vậy, việc giảng dạy và học tập tiếng Anh có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của quốc gia. Tuy nhiên, chất lƣợng học tập và giảng dạy tiếng Anh ở nƣớc ta còn nhiều vấn đề. Trong nghiên cứu “Làm thế nào để cải thiện kỹ năng nói tiếng Anh cho sinh viên”, Hồ Minh Thu (2006) cho biết một số kết quả của khảo sát thực trạng về năng lực tiếng Anh của sinh viên không chuyên ngữ tại hai trƣờng đại học thành viên của đại học Đà Nẵng nhƣ sau: “các kỹ năng ngôn ngữ của sinh viên còn rất hạn chế, đặc biệt là các kỹ năng nghe và nói; đại bộ phận sinh viên (67%) không có thói quen hoặc không thể giao tiếp với nhau bằng tiếng Anh…” Mặc dù, giảng dạy tiếng Anh hiện nay rất đƣợc các trƣờng đại học xem trọng và có mặt trong tất cả các chƣơng trình đào tạo, khả năng 6 z tiếng Anh của sinh viên sau khi ra trƣờng nhìn chung vẫn chƣa tốt.
Tạp chí Nhà Quản Lý (26.2006) cho biết chỉ có 40% sinh viên nƣớc ta có thái độ tích cực đối với việc học, phần còn lại học chỉ để học chứ thật sự không đầu tƣ vào đó. Một trong những nguyên nhân góp phần vào tình trạng này là động lực học tập của ngƣời học chƣa cao. Trong lĩnh vực giảng dạy tiếng Anh, Kiều Văn Thịnh (2000) cho rằng “mọi phƣơng pháp giảng dạy cho dù tân kỳ nhƣ thế nào mà cung cách ngƣời học ù lì, tất cả sẽ không thay đổi. Ngƣời học không tự buộc mình phải học thì các phƣơng pháp giảng dạy có liên tục cải tiến cũng chỉ là món đồ chơi cầu kỳ, đắc tiền, vô tác dụng.” Điều này cũng tƣơng tự nhƣ cải tiến phƣơng pháp mà không dựa trên những quy luật về tâm lý học tập của ngƣời học thì chắc chắn thất bại.
Slavin (2008) khẳng định “một trong những thành phần có tính then chốt nhất trong việc học là động lực học tập…mọi sinh viên đều có động lực học tập”. Các quốc gia có nền giáo dục phát triển rất quan tâm đến động lực học tập ngƣời học. Vấn đề này đã đƣợc nghiên cứu rất nhiều, hình thành nên một hệ thống lý thuyết vững chắc và ứng dụng vào giảng dạy từ lâu trên thế giới nhƣ các thuyết Học tập hành vi (Behavioral Learning Theory), thuyết nhu cầu của Maslow, thuyết Quy kết (Attribution Theory), thuyết Kỳ vọng (Expectancy Theory)… Các thuyết này cung cấp những thông tin: giáo viên có thể tạo nên sự khác biệt rất lớn ở động lực học tập ngƣời học và động lực học tập đóng vai trò quyết định chất lƣợng học tập. Động lực học tập tạo nên một nguồn sức mạnh, một nguồn năng lƣợng mạnh mẽ khiến chủ thể hành động và duy trì hành động để đạt đƣợc kết quả.
Nhiều nhà khoa học nhận định rằng học sinh chịu học hay không liên quan rất nhiều đến động lực học tập. Nếu ngƣời học có động lực, chất lƣợng học tập sẽ vƣợt trội. Theo Slavin (2008), một trong những yếu tố làm tăng động lực của ngƣời học là phƣơng pháp giảng dạy của giáo viên. 7 z Acsimet có câu “Hãy cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ nhấc bổng trái đất lên!” Acsimet cho thấy phƣơng pháp tốt có thể làm nên những chuyện phi thƣờng.
Trong khi giáo dục có thể tạo nên điều kỳ diệu đối với kết quả đào tạo nguồn nhân lực thì phƣơng pháp giảng dạy lại có thể tạo nên đòn bẩy nâng cao chất lƣợng giáo dục. Tác giả Trần Lê Hữu Nghĩa (2008) nhìn nhận khá toàn diện về tình hình giảng dạy và học tập tại các trƣờng đại học nƣớc ta: “giáo viên vẫn là ngƣời ra quyết định, là nhân vật trung tâm của lớp học… Sinh viên Việt Nam không đƣợc dạy bằng phƣơng pháp tích cực, chủ yếu là nghe giảng và ghi chép…thiếu sự tƣơng tác. Vì vậy, thay đổi phƣơng pháp giảng dạy là vấn đề sống còn. Văn kiện Hội nghị lần thứ II Ban chấp hành trung ƣơng khóa VIII (1997) thể hiện rõ quyết tâm tận dụng đòn bẩy phƣơng pháp: “đổi mới mạnh mẽ phƣơng pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tƣ duy sáng tạo của ngƣời học.
Từng bƣớc áp dụng các phƣơng pháp tiên tiến và phƣơng tiện hiện đại vào quá trình dạy - học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đại học…” Keller (1984) cho rằng giáo viên không thể khiến sinh viên chịu học nhƣng họ có thể phát triển những chiến lƣợc tạo môi trƣờng thúc đẩy sinh viên học tập. Theo mô hình ARCS về thiết kế động lực, Keller (1984) chứng minh rằng những hành vi, hoạt động nằm trong phƣơng pháp giảng dạy của giáo viên có thể gây sự chú ý, sự thích thú, sự tự tin, sự thoả mãn của ngƣời học. Đó là những yếu tố mà Keller khẳng định sẽ làm tăng cƣờng và duy trì động lực học tập của ngƣời học. Slavin (2008) cung cấp những thông tin khẳng định giáo viên có thể tạo nên sự khác biệt rất lớn ở động lực học tập ngƣời học.
Những chiến lƣợc mà nhà giáo dục có thể sử dụng nhằm tăng động lực học tập ngƣời học nhƣ phải khơi dậy sự hứng thú học tập, trí tò mò, sử dụng đa dạng các hình thức trình bày, giảng bài thú vị, 8 z giúp ngƣời học thiết lập những mục tiêu của chính mình, cung cấp những phản hồi rõ ràng, tức thời và thƣờng xuyên… Trong lĩnh vực giảng dạy tiếng Anh, phƣơng pháp giảng dạy đặc biệt có những tác động mạnh mẽ đến chất lƣợng học tập, nhất là đối với đặc điểm sinh viên Việt Nam “có những phẩm chất gây trở ngại cho việc học ngôn ngữ nhƣ nhút nhát, thụ động, không thích cộng tác với bạn bè, tính tự giác học tập và năng động chƣa cao… (Nguyễn Thị Thuý Hồng, 2009). Nguyễn Thị Thuý Hồng (2009) đề xuất phƣơng pháp giảng dạy tiếng Anh phải thay đổi theo hƣớng cho sinh viên thực hành theo nhóm, theo cặp, xen kẽ các trò chơi trong các giờ giảng, thiết kế các bài tập theo hƣớng tạo tính chủ động sáng tạo…nhằm khắc phục những trở ngại trên. Nhƣ vậy, phƣơng pháp giảng dạy nói chung, phƣơng pháp dạy tiếng Anh nói riêng, đóng vai trò lớn trong việc thúc đẩy động lực học tập, từ đó làm thay đổi hiệu quả học tập tiếng Anh của ngƣời học.