CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Lịch sử nghiên cứu về rối loạn giọng nói 1. Nghiên cứu dịch tễ học rối loạn giọng nói trên thế giới Mặc dù nghiên cứu về RLGN phát triển sau hơn so với các ngành khoa học Y học khác, tuy nhiên trong những thập niên cuối của thế kỷ XX, trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về những khía cạnh khác nhau của RLGN8, 9. Nghiên cứu về tính phổ biến của RLGN trong cộng đồng, Roy và cộng sự (CS) 10 đã chọn ngẫu nhiên 1326 người trưởng thành tại Iowa và Utah, Mỹ vào mẫu nghiên cứu.
Bằng phương pháp phỏng vấn qua điện thoại và với bộ câu hỏi chuẩn bị sẵn. Kết quả cho thấy 29,9% số người được hỏi có tiền sử RLGN, trong đó 6,6% số người đang bị RLGN. nghiên cứu tại một bệnh viện ở London, thấy rằng tỷ lệ mới mắc RLGN trong cộng đồng là 121/100. Theo kết quả nghiên cứu của Julian và CS tại Tây Ban Nha, tỷ lệ mới mắc RLGN là 3,87/1000 GV/năm11.
Nghiên cứu mối liên quan giữa giới tính với RLGN, Roy10 nhận thấy: So với nam giới, phụ nữ không chỉ mắc các RLGN nhiều hơn (46,3% ở nữ giới so với 36,9% ở nam giới), mà họ cũng có tỷ lệ mắc các rối loạn mạn tính cao hơn. Các tác giả khác như: Julian và CS (Tây Ban Nha) 11; Nghiên cứu của Menon và CS năm 2021 trên 702 giáo viên ở 28 trường học miền nam Ấn độ , cũng có những đánh giá tương tự về vấn đề này: Tỷ lệ mắc RLGN ở nữ giới cao hơn so với nam giới 12. 4 Nghiên cứu của Ahmed và CS năm 2018 trên 187 giáo viên ở Arab Saudi cũng cho thấy những giáo viên ở trường công có nguy cơ bị rối loạn giọng nói cao hơn các giáo viên ở trường tư. Bên cạnh đó các yếu tố như tiếng ồn, số lượng học sinh nhiều cũng làm tăng nguy cơ rối loạn giọng nói ở giáo viên 13.
Williams 14 đã nhận thấy RLGN mang tính chất nghề nghiệp rõ rệt. Phân tích những số liệu được thống kê từ nhiều nghiên cứu khác, Byeon và cộng sự năm 2019 đã đưa ra nhận xét tương tự: RLGN cường năng (hyperfuntional dysphonia) do hành vi đứng hàng đầu trong các RLGN và thường gặp ở những người phải sử dụng giọng nói một cách quá mức15. Theo các nghiên cứu trên thế giới cho thấy GV được xác định là nghề có tỷ lệ mắc RLGN lớn nhất2. Trinite năm 2017 nghiên cứu trên 522 giáo viên ở Latvia đã đi đến kết luận 82% giáo viên có rối loạn giọng nói và giáo viên nữ mắc rối loạn giọng nói nhiều hơn giáo viên nam16.
Tìm hiểu về tần suất mắc RLGN ở GV, Smith E. và CS đã tiến hành nghiên cứu trên hai nhóm. Nhóm 1 gồm 554 GVTH và GV trung học phổ thông, nhóm 2 là 220 người làm những nghề khác. Các tác giả đã ghi nhận: RLGN của GV đều cao hơn những người làm nghề khác (p<0,05)17.
Phân tích từ bộ câu hỏi gồm 85 mục được trả lời từ 550 GVTH ở 42 trường quanh vùng Dublin, Munier C. đã thu được kết quả như sau: 27% có RLGN liên tục, 53% có RLGN từng đợt, 20% không có vấn đề gì về giọng nói18. RLGN ở GV có tính chất đặc thù rõ rệt theo môn dạy học: Hay gặp nhiều hơn ở những GV dạy nhạc, kịch, các môn nghệ thuật, hóa học, dạy hát và dạy thể dục nhịp điệu, 19, 20. và CS còn gặp RLGN với tỷ lệ cao ở những trường hợp đã được phẫu thuật do có các tổn thương thực thể tại thanh quản 21.
Nghiên cứu dịch tễ học rối loạn giọng nói ở nữ giáo viên tiểu học Việt Nam Tại Việt Nam, những số liệu về RLGN trong cộng đồng còn rất khiêm tốn 22, 23. Năm 2000 xuất hiện công bố đầu tiên về dịch tễ học RLGN ở GVTH của Phạm Thị Ngọc, nghiên cứu tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Đối tượng nghiên cứu gồm 385 GV (nam 7,3%, nữ 92,7%). Tuổi đời trung bình của nam là 36,9 và nữ là 33,5.
Tuổi nghề trung bình là 13,4 năm (ít nhất là 1 năm và nhiều nhất là 33 năm). Kết quả: 29,9% GV mắc RLGN, trong đó 20,3% có tổn thương thực thể và 9,6% RLGN chức năng 24. Năm 2002, Ngô Ngọc Liễn và CS đã tiến hành nghiên cứu về BGTQ trên 698 nữ GV của 20 trường tiểu học TP Hà Nội. Bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu và khám thanh quản bằng kỹ thuật soi thanh quản gián tiếp qua gương soi.
Kết quả cho thấy 20,45% GV có các tổn thương thực thể ở thanh quản 25. Năm 2006, Ngô Ngọc Liễn và CS 5 đã tiến hành nghiên cứu về RLGN trên 1033 nữ GVTH đại diện cho các vùng, miền trên toàn quốc. Với phương pháp điều tra cắt ngang, các tác giả đã tiến hành phỏng vấn các đối tượng nghiên cứu, thăm khám thanh quản bằng nội soi. Kết quả cho thấy tỷ lệ có tổn thương thực thể ở thanh quản là 20,81%.
Các RLGN chức năng chưa được đề cập đến trong nghiên cứu này. Phạm Thị Ngọc (2010) nghiên cứu bệnh giọng nghề nghiệp của GVTH huyện Đông Anh, thành phố Hà nội cho thấy tỷ lệ mắc bệnh giọng nghề nghiệp là 29,9% trong đó 20,3% trường hợp có tổn thương thực thể tại thanh quản; 9,6% trường hợp là các rối loạn chức năng về giọng 26. Trần Duy Ninh (2011) nghiên cứu RLGN của GVTH Thành phố Thái Nguyên cho thấy tỷ lệ mắc RLGN trong 2 mùa nghiên cứu là: 76,20% - 79,33% trong đó có 26,44% - 29,9% trở thành bệnh giọng thanh quản, tác giả cũng đã đánh giá hiệu quả của công tác truyền thông - giáo dục sức khỏe mục đích giúp 6 GV phát huy những hành vi phát âm đúng, giảm thiểu hoặc loại bỏ những yếu tố ảnh hưởng đến giọng nói từ đó cải thiện chất lượng giọng nói 27, 28. Như vậy, có thể nói rằng RLGN rất thường gặp ở Việt Nam cũng như trên thế giới, điều đó đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng cuộc sống và hoạt động nghề nghiệp của người bệnh 29.
Khái niệm về giọng nói Giọng nói là tín hiệu âm học được tạo ra bởi thanh quản và bộ máy phát âm. Quá trình hít thở không khí qua khe thanh môn và việc tạo ra tiếng nói được gọi là phát âm 30. Giọng nói bình thường có được là do sự toàn vẹn về giải phẫu của cơ quan phát âm và các bộ phận liên quan, chúng hoạt động gần như đồng thời và thống nhất với nhau dưới sự điều khiển của hệ thống thần kinh trung ương. Đặc điểm âm học của giọng nói và những thay đổi của nó phụ thuộc vào cấu trúc tự nhiên và cơ chế sinh học của thanh quản ở mỗi người 31.
Giọng nói bình thường (Normal voice) Rất khó để có thể định nghĩa giọng nói bình thường, bởi vì giọng nói của mỗi người có đặc điểm riêng biệt và khác hoàn toàn với giọng người khác. Bên cạnh đó, một người có thể phát ra những âm thanh khác nhau tùy thuộc vào tâm trạng, sức khỏe hoặc hoàn cảnh giao tiếp 1, 32. Mathieson L (2001) cho rằng 8: Giọng nói được xem như là bình thường khi: - Âm xướng lên phải rõ ràng, nó không quá thô ráp và không đứt quãng. - Nó có thể nghe được trong một phạm vi rộng và có thể được nghe thấy ngay cả khi có tiếng ồn bao quanh hay từ đằng sau, khi nói to, mọi người phải đủ nghe.
- Phù hợp với độ tuổi và giới tính, có sự linh hoạt về độ cao. - Giọng nói phải có tính bền vững và không thay đổi trong suốt quá trình phát âm. 7 - Giọng nói bình thường khi phát âm phải thoải mái, người nói có thể tự tin về cách diễn đạt giọng nói của mình 8. Khái quát về ngữ âm của giọng nói Âm tố (sound) là đơn vị ngữ âm nhỏ nhất, không thể phân chia được nữa.
- Âm tố là đơn vị âm thanh nhỏ nhất của lời nói, có thể tách ra về mặt cấu âm - thính giác, đồng chất trong một khoảng thời gian nhất định và thường ứng với một âm vị. Có thể nói, âm tố là đoạn âm thanh nhỏ nhất, có thể tách ra được từ chuỗi lời nói liên tục, không gắn liền với giá trị khu biệt âm vị học của nó. Âm tố là sự thể hiện cụ thể của âm vị, nó chứa đựng cả một loạt những đặc trưng cần yếu và không cần yếu của âm vị33. Dựa theo cách thoát ra của luồng âm không khí khi phát âm, các âm tố thường được phân ra làm hai loại chính: nguyên âm (vowel) và phụ âm (consonant).
+ Nguyên âm: Nếu âm thoát ra một cách tự do, có một âm hưởng “êm ái”, “dễ nghe”, mà đặc trưng âm học của nó có tần số xác định, có đường cong biểu diễn tuần hoàn thì được gọi là tiếng thanh. Về bản chất âm học, nguyên âm là tiếng thanh. Nói một cách khác, nguyên âm là âm chỉ bao gồm tiếng thanh, không có tiếng động, được tạo ra bằng luồn không khí phát ra tự do, không có chướng ngại33. + Phụ âm: Ngược lại với nguyên âm, phụ âm là tiếng động.
Những tiếng này không “dễ nghe”, có tần số không ổn định, được biểu diễn bằng những đường cong không tuần hoàn. - Ngoài hai loại âm tố chủ yếu trên còn có loại âm tố thứ ba mang tính chất trung gian, đó là các bán nguyên âm hay bán phụ âm. Những âm tố này vừa mang tính chất nguyên âm vừa mang tính chất phụ âm. 8 Các tiêu chí miêu tả và phân loại nguyên âm - Theo vị trí của lưỡi: Có thể chia nguyên âm thành ba dòng: trước, giữa, sau.
- Theo độ mở của miệng: Các nguyên âm được phân thành các nguyên âm có độ mở rộng - hẹp. - Theo hình dáng của đôi môi: Các nguyên âm được chia thành nguyên âm tròn môi - không tròn môi. Ngoài ra còn có các tiêu chuẩn về trường độ, tính mũi hoá. Chúng ta có thể nhận diện các nguyên âm qua hình thang nguyên âm33.
Các tiêu chí miêu tả và phân loại phụ âm - Về phương thức cấu âm. Có thể chia các phụ âm thành: âm tắc – âm xát - âm rung - âm vang - âm ồn. - Về vị trí cấu âm. Có thể chia các phụ âm thành: âm môi – âm đầu lưỡi - âm mặt lưỡi - âm cuối/gốc lưỡi - âm thanh hầu33.
Giải phẫu cơ quan phát âm: Cơ quan phát âm được phân chia thành ba bộ phận chính 34, 30, 35: - Bộ phận hô hấp dưới: Tạo luồng hơi phát âm. - Bộ phận rung (thanh quản): Tạo ra âm thanh.