Luận án nghiên cứu rối loạn giọng nói của nữ giáo viên tiểu học huyện gia lâm hà nội và đánh giá kết quả của biện pháp can thiệp

Chuyên khảo phân tích Luận án nghiên cứu rối loạn giọng nói của nữ giáo viên tiểu học huyện gia lâm hà nội và đánh giá, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu

Trường đại học

Trường Đại Học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Y học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2023

178
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Lịch sử nghiên cứu về rối loạn giọng nói

1.2. Nghiên cứu dịch tễ học rối loạn giọng nói trên thế giới

1.3. Nghiên cứu mối liên quan giữa giới tính với RLGN

1.4. Nghiên cứu dịch tễ học rối loạn giọng nói ở nữ giáo viên tiểu học Việt Nam

1.5. Khái niệm về giọng nói

1.6. Giọng nói bình thường (Normal voice)

1.7. Khái quát về ngữ âm của giọng nói

1.7.1. Âm tố (sound) là đơn vị ngữ âm nhỏ nhất

1.7.2. Các tiêu chí miêu tả và phân loại nguyên âm

1.7.3. Các tiêu chí miêu tả và phân loại phụ âm

1.8. Giải phẫu cơ quan phát âm

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Tiêu chuẩn lựa chọn, tiêu chuẩn loại trừ

2.3. Địa điểm nghiên cứu

2.4. Thời gian nghiên cứu

2.5. Phương pháp nghiên cứu

2.5.1. Thiết kế nghiên cứu

2.5.2. Thiết bị nghiên cứu

2.5.3. Biến số và chỉ số nghiên cứu

2.5.4. Các bước tiến hành

2.5.5. Tiêu chuẩn đánh giá

2.5.6. Nguyên tắc phân nhóm can thiệp

2.5.7. Phương pháp xử lý số liệu

2.5.8. Biện pháp khống chế sai số

2.5.9. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Thực trạng rối loạn giọng nói của nữ giáo viên tiểu học về chức năng, thực thể và các bệnh lý tai mũi họng kèm theo

3.2. Đặc điểm chung của đối tượng trong nhóm nghiên cứu

3.3. Thực trạng RLGN về chức năng và thực thể của đối tượng tham gia nghiên cứu

3.4. Thực trạng RLGN và các bệnh lý tai mũi họng kèm theo

3.5. Một số yếu tố liên quan đến tình trạng RLGN ở nữ GVTH

3.6. Đánh giá hiệu quả của các biện pháp can thiệp trong điều trị RLGN ở giáo viên tiểu học

3.6.1. Nhóm chỉ số liên quan đến RLGN chức năng và thực thể

3.6.2. Tỷ lệ mắc và cải thiện sau can thiệp các bệnh TMH và LPR kèm theo

3.6.3. Nhóm chỉ số về hiệu quả phối hợp điều trị nội khoa, vệ sinh giọng nói và luyện giọng

3.6.4. Nhóm chỉ số liên quan tới tuân thủ và duy trì các phác đồ và phương pháp tập luyện

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Thực trạng rối loạn giọng nói của nữ giáo viên tiểu học về chức năng, thực thể và các bệnh lý tai mũi họng kèm theo

4.2. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

4.3. Thực trạng mắc các triệu chứng rối loạn giọng nói

4.4. Các bệnh TMH kèm theo với tình trạng RLGN trên nhóm nữ GVTH

4.5. Một số yếu tố liên quan đến RLGN của nữ GVTH huyện Gia Lâm, TP Hà Nội

4.6. Đánh giá kết quả của biện pháp can thiệp RLGN ở nữ giáo viên tiểu học huyện Gia Lâm - Hà Nội

4.7. Nhóm các chỉ số liên quan đến RLGN chức năng và thực thể

4.8. Nhóm chỉ số liên quan tới bệnh LPR và bệnh lý TMH kèm theo

4.9. Nhóm chỉ số về hiệu quả phối hợp điều trị nội khoa, vệ sinh giọng nói và luyện giọng

4.10. Nhóm các chỉ số liên quan tới tuân thủ và duy trì các phác đồ và phương pháp luyện tập

4.11. Một số đóng góp mới và hạn chế của đề tài và biện pháp khắc phục

4.11.1. Những đóng góp mới của luận án

4.11.2. Những hạn chế của đề tài và biện pháp khắc phục

CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Bảng 2.1. Kết quả nội soi hoạt nghiệm thanh quản

Bảng 3. Tỷ lệ cải thiện các bệnh tai mũi họng qua 3 lần can thiệp

Biểu đồ 3. Trình độ học vấn của nữ giáo viên tiểu học

Hình 1.1. Giải phẫu đường hô hấp

Tóm tắt

I. Tổng quan về rối loạn giọng nói

Rối loạn giọng nói (rối loạn giọng nói) là tình trạng bất thường của một hoặc nhiều đặc tính của giọng nói, bao gồm rối loạn âm vực, cao độ, cường độ hay chất thanh. Nghiên cứu dịch tễ học về rối loạn giọng nói trên thế giới cho thấy tỷ lệ mắc rối loạn giọng nói ở nữ giáo viên (nữ giáo viên) cao hơn so với nam giới. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng giáo viên là nhóm nghề có nguy cơ mắc rối loạn giọng nói cao nhất do đặc thù công việc yêu cầu sử dụng giọng nói liên tục. Tại Việt Nam, nghiên cứu về rối loạn giọng nói ở nữ giáo viên tiểu học (tiểu học) cũng cho thấy tỷ lệ mắc bệnh này đáng kể, với nhiều trường hợp có tổn thương thực thể tại thanh quản. Việc phát hiện và đánh giá rối loạn giọng nói cần dựa vào nhiều phương pháp, bao gồm đánh giá chủ quan và khách quan, trong đó nội soi hoạt nghiệm thanh quản là phương pháp chính xác nhất để chẩn đoán.

1.1. Khái niệm về giọng nói

Giọng nói là tín hiệu âm học được tạo ra bởi thanh quản và bộ máy phát âm. Giọng nói bình thường được xác định bởi sự toàn vẹn về giải phẫu của cơ quan phát âm và các bộ phận liên quan. Đặc điểm âm học của giọng nói phụ thuộc vào cấu trúc tự nhiên và cơ chế sinh học của thanh quản ở mỗi người. Giọng nói bình thường có âm xướng rõ ràng, không quá thô ráp và có thể nghe được trong một phạm vi rộng. Các yếu tố như tâm trạng, sức khỏe và hoàn cảnh giao tiếp cũng ảnh hưởng đến giọng nói của mỗi người.

1.2. Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ rối loạn giọng nói

Rối loạn giọng nói có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau, bao gồm lạm dụng giọng nói, tổn thương thực thể tại thanh quản và các bệnh lý tai mũi họng kèm theo. Các yếu tố nguy cơ như tiếng ồn, số lượng học sinh trong lớp học và áp lực công việc cũng làm tăng nguy cơ mắc rối loạn giọng nói ở giáo viên. Việc hiểu rõ nguyên nhân và yếu tố nguy cơ là rất quan trọng để có thể đưa ra các biện pháp can thiệp hiệu quả.

II. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào đối tượng là nữ giáo viên tiểu học tại huyện Gia Lâm, Hà Nội. Tiêu chuẩn lựa chọn bao gồm giáo viên có thời gian công tác từ một năm trở lên và không có tiền sử bệnh lý nghiêm trọng ảnh hưởng đến giọng nói. Phương pháp nghiên cứu bao gồm thiết kế nghiên cứu cắt ngang, sử dụng các công cụ như bảng hỏi, phỏng vấn và nội soi hoạt nghiệm thanh quản để thu thập dữ liệu. Các bước tiến hành nghiên cứu được thực hiện theo quy trình chặt chẽ, đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của kết quả. Đặc biệt, vấn đề đạo đức trong nghiên cứu được chú trọng, đảm bảo quyền lợi và sự an toàn cho đối tượng tham gia.

2.1. Thiết kế nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu cắt ngang cho phép thu thập dữ liệu tại một thời điểm nhất định, giúp đánh giá tình trạng rối loạn giọng nói của nữ giáo viên một cách toàn diện. Các biến số và chỉ số nghiên cứu được xác định rõ ràng, bao gồm tỷ lệ mắc rối loạn giọng nói, các triệu chứng đi kèm và các yếu tố liên quan. Phương pháp xử lý số liệu được thực hiện bằng các phần mềm thống kê hiện đại, đảm bảo tính chính xác trong việc phân tích và đánh giá kết quả.

2.2. Tiêu chuẩn đánh giá

Tiêu chuẩn đánh giá được xây dựng dựa trên các tiêu chí y học hiện hành về rối loạn giọng nói. Các chỉ số liên quan đến chức năng giọng nói, tình trạng sức khỏe tổng quát và các bệnh lý tai mũi họng kèm theo được xem xét kỹ lưỡng. Việc đánh giá hiệu quả của các biện pháp can thiệp cũng được thực hiện thông qua các chỉ số cụ thể, giúp xác định mức độ cải thiện của giọng nói sau can thiệp.

III. Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy thực trạng rối loạn giọng nói của nữ giáo viên tiểu học tại Gia Lâm có tỷ lệ mắc cao, với nhiều trường hợp có triệu chứng rõ rệt. Các yếu tố liên quan đến tình trạng rối loạn giọng nói bao gồm tuổi tác, thời gian công tác và số lượng học sinh trong lớp. Đặc biệt, tỷ lệ mắc các bệnh lý tai mũi họng kèm theo cũng cao, cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa rối loạn giọng nói và sức khỏe tổng quát của giáo viên. Đánh giá hiệu quả của các biện pháp can thiệp cho thấy có sự cải thiện rõ rệt về chất lượng giọng nói sau khi áp dụng các phương pháp điều trị.

3.1. Thực trạng rối loạn giọng nói

Thực trạng rối loạn giọng nói của nữ giáo viên tiểu học cho thấy tỷ lệ mắc rối loạn giọng nói chức năng và thực thể cao. Nhiều giáo viên gặp phải các triệu chứng như khàn giọng, mất giọng và khó khăn trong việc phát âm. Các bệnh lý tai mũi họng kèm theo như viêm họng, viêm amidan cũng được ghi nhận, cho thấy sự phức tạp trong việc điều trị rối loạn giọng nói. Việc phát hiện sớm và can thiệp kịp thời là rất cần thiết để cải thiện tình trạng này.

3.2. Đánh giá hiệu quả can thiệp

Đánh giá hiệu quả của các biện pháp can thiệp cho thấy tỷ lệ cải thiện rõ rệt sau khi áp dụng các phương pháp điều trị như luyện giọng và điều trị nội khoa. Các chỉ số liên quan đến chức năng giọng nói và tình trạng sức khỏe tổng quát của giáo viên cũng có sự cải thiện đáng kể. Việc tuân thủ các phác đồ điều trị và phương pháp luyện tập là yếu tố quan trọng quyết định đến hiệu quả can thiệp.

IV. Bàn luận

Bàn luận về thực trạng rối loạn giọng nói của nữ giáo viên tiểu học tại Gia Lâm cho thấy đây là vấn đề nghiêm trọng cần được quan tâm. Các yếu tố như áp lực công việc, môi trường làm việc và thói quen sử dụng giọng nói ảnh hưởng lớn đến tình trạng sức khỏe của giáo viên. Việc nâng cao nhận thức về chăm sóc giọng nói và áp dụng các biện pháp can thiệp hiệu quả là cần thiết để cải thiện chất lượng giọng nói và sức khỏe tổng quát của giáo viên. Những đóng góp mới từ nghiên cứu này sẽ giúp xây dựng các chương trình can thiệp phù hợp và hiệu quả hơn trong tương lai.

4.1. Đánh giá kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng rối loạn giọng nói là vấn đề phổ biến ở nữ giáo viên tiểu học, với nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng này. Việc đánh giá kết quả nghiên cứu không chỉ giúp hiểu rõ hơn về tình trạng rối loạn giọng nói mà còn cung cấp cơ sở cho các biện pháp can thiệp hiệu quả. Các chỉ số liên quan đến sức khỏe và chức năng giọng nói cần được theo dõi thường xuyên để đảm bảo giáo viên có thể thực hiện tốt công việc của mình.

4.2. Đề xuất biện pháp can thiệp

Đề xuất các biện pháp can thiệp cần được xây dựng dựa trên kết quả nghiên cứu và thực trạng rối loạn giọng nói của giáo viên. Các chương trình đào tạo về kỹ năng sử dụng giọng nói, chăm sóc sức khỏe giọng nói và các phương pháp luyện giọng cần được triển khai rộng rãi. Ngoài ra, việc tạo ra môi trường làm việc thân thiện và hỗ trợ cho giáo viên cũng là yếu tố quan trọng giúp giảm thiểu tình trạng rối loạn giọng nói.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Lịch sử nghiên cứu về rối loạn giọng nói 1. Nghiên cứu dịch tễ học rối loạn giọng nói trên thế giới Mặc dù nghiên cứu về RLGN phát triển sau hơn so với các ngành khoa học Y học khác, tuy nhiên trong những thập niên cuối của thế kỷ XX, trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về những khía cạnh khác nhau của RLGN8, 9. Nghiên cứu về tính phổ biến của RLGN trong cộng đồng, Roy và cộng sự (CS) 10 đã chọn ngẫu nhiên 1326 người trưởng thành tại Iowa và Utah, Mỹ vào mẫu nghiên cứu.

Bằng phương pháp phỏng vấn qua điện thoại và với bộ câu hỏi chuẩn bị sẵn. Kết quả cho thấy 29,9% số người được hỏi có tiền sử RLGN, trong đó 6,6% số người đang bị RLGN. nghiên cứu tại một bệnh viện ở London, thấy rằng tỷ lệ mới mắc RLGN trong cộng đồng là 121/100. Theo kết quả nghiên cứu của Julian và CS tại Tây Ban Nha, tỷ lệ mới mắc RLGN là 3,87/1000 GV/năm11.

Nghiên cứu mối liên quan giữa giới tính với RLGN, Roy10 nhận thấy: So với nam giới, phụ nữ không chỉ mắc các RLGN nhiều hơn (46,3% ở nữ giới so với 36,9% ở nam giới), mà họ cũng có tỷ lệ mắc các rối loạn mạn tính cao hơn. Các tác giả khác như: Julian và CS (Tây Ban Nha) 11; Nghiên cứu của Menon và CS năm 2021 trên 702 giáo viên ở 28 trường học miền nam Ấn độ , cũng có những đánh giá tương tự về vấn đề này: Tỷ lệ mắc RLGN ở nữ giới cao hơn so với nam giới 12. 4 Nghiên cứu của Ahmed và CS năm 2018 trên 187 giáo viên ở Arab Saudi cũng cho thấy những giáo viên ở trường công có nguy cơ bị rối loạn giọng nói cao hơn các giáo viên ở trường tư. Bên cạnh đó các yếu tố như tiếng ồn, số lượng học sinh nhiều cũng làm tăng nguy cơ rối loạn giọng nói ở giáo viên 13.

Williams 14 đã nhận thấy RLGN mang tính chất nghề nghiệp rõ rệt. Phân tích những số liệu được thống kê từ nhiều nghiên cứu khác, Byeon và cộng sự năm 2019 đã đưa ra nhận xét tương tự: RLGN cường năng (hyperfuntional dysphonia) do hành vi đứng hàng đầu trong các RLGN và thường gặp ở những người phải sử dụng giọng nói một cách quá mức15. Theo các nghiên cứu trên thế giới cho thấy GV được xác định là nghề có tỷ lệ mắc RLGN lớn nhất2. Trinite năm 2017 nghiên cứu trên 522 giáo viên ở Latvia đã đi đến kết luận 82% giáo viên có rối loạn giọng nói và giáo viên nữ mắc rối loạn giọng nói nhiều hơn giáo viên nam16.

Tìm hiểu về tần suất mắc RLGN ở GV, Smith E. và CS đã tiến hành nghiên cứu trên hai nhóm. Nhóm 1 gồm 554 GVTH và GV trung học phổ thông, nhóm 2 là 220 người làm những nghề khác. Các tác giả đã ghi nhận: RLGN của GV đều cao hơn những người làm nghề khác (p<0,05)17.

Phân tích từ bộ câu hỏi gồm 85 mục được trả lời từ 550 GVTH ở 42 trường quanh vùng Dublin, Munier C. đã thu được kết quả như sau: 27% có RLGN liên tục, 53% có RLGN từng đợt, 20% không có vấn đề gì về giọng nói18. RLGN ở GV có tính chất đặc thù rõ rệt theo môn dạy học: Hay gặp nhiều hơn ở những GV dạy nhạc, kịch, các môn nghệ thuật, hóa học, dạy hát và dạy thể dục nhịp điệu, 19, 20. và CS còn gặp RLGN với tỷ lệ cao ở những trường hợp đã được phẫu thuật do có các tổn thương thực thể tại thanh quản 21.

Nghiên cứu dịch tễ học rối loạn giọng nói ở nữ giáo viên tiểu học Việt Nam Tại Việt Nam, những số liệu về RLGN trong cộng đồng còn rất khiêm tốn 22, 23. Năm 2000 xuất hiện công bố đầu tiên về dịch tễ học RLGN ở GVTH của Phạm Thị Ngọc, nghiên cứu tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Đối tượng nghiên cứu gồm 385 GV (nam 7,3%, nữ 92,7%). Tuổi đời trung bình của nam là 36,9 và nữ là 33,5.

Tuổi nghề trung bình là 13,4 năm (ít nhất là 1 năm và nhiều nhất là 33 năm). Kết quả: 29,9% GV mắc RLGN, trong đó 20,3% có tổn thương thực thể và 9,6% RLGN chức năng 24. Năm 2002, Ngô Ngọc Liễn và CS đã tiến hành nghiên cứu về BGTQ trên 698 nữ GV của 20 trường tiểu học TP Hà Nội. Bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu và khám thanh quản bằng kỹ thuật soi thanh quản gián tiếp qua gương soi.

Kết quả cho thấy 20,45% GV có các tổn thương thực thể ở thanh quản 25. Năm 2006, Ngô Ngọc Liễn và CS 5 đã tiến hành nghiên cứu về RLGN trên 1033 nữ GVTH đại diện cho các vùng, miền trên toàn quốc. Với phương pháp điều tra cắt ngang, các tác giả đã tiến hành phỏng vấn các đối tượng nghiên cứu, thăm khám thanh quản bằng nội soi. Kết quả cho thấy tỷ lệ có tổn thương thực thể ở thanh quản là 20,81%.

Các RLGN chức năng chưa được đề cập đến trong nghiên cứu này. Phạm Thị Ngọc (2010) nghiên cứu bệnh giọng nghề nghiệp của GVTH huyện Đông Anh, thành phố Hà nội cho thấy tỷ lệ mắc bệnh giọng nghề nghiệp là 29,9% trong đó 20,3% trường hợp có tổn thương thực thể tại thanh quản; 9,6% trường hợp là các rối loạn chức năng về giọng 26. Trần Duy Ninh (2011) nghiên cứu RLGN của GVTH Thành phố Thái Nguyên cho thấy tỷ lệ mắc RLGN trong 2 mùa nghiên cứu là: 76,20% - 79,33% trong đó có 26,44% - 29,9% trở thành bệnh giọng thanh quản, tác giả cũng đã đánh giá hiệu quả của công tác truyền thông - giáo dục sức khỏe mục đích giúp 6 GV phát huy những hành vi phát âm đúng, giảm thiểu hoặc loại bỏ những yếu tố ảnh hưởng đến giọng nói từ đó cải thiện chất lượng giọng nói 27, 28. Như vậy, có thể nói rằng RLGN rất thường gặp ở Việt Nam cũng như trên thế giới, điều đó đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng cuộc sống và hoạt động nghề nghiệp của người bệnh 29.

Khái niệm về giọng nói Giọng nói là tín hiệu âm học được tạo ra bởi thanh quản và bộ máy phát âm. Quá trình hít thở không khí qua khe thanh môn và việc tạo ra tiếng nói được gọi là phát âm 30. Giọng nói bình thường có được là do sự toàn vẹn về giải phẫu của cơ quan phát âm và các bộ phận liên quan, chúng hoạt động gần như đồng thời và thống nhất với nhau dưới sự điều khiển của hệ thống thần kinh trung ương. Đặc điểm âm học của giọng nói và những thay đổi của nó phụ thuộc vào cấu trúc tự nhiên và cơ chế sinh học của thanh quản ở mỗi người 31.

Giọng nói bình thường (Normal voice) Rất khó để có thể định nghĩa giọng nói bình thường, bởi vì giọng nói của mỗi người có đặc điểm riêng biệt và khác hoàn toàn với giọng người khác. Bên cạnh đó, một người có thể phát ra những âm thanh khác nhau tùy thuộc vào tâm trạng, sức khỏe hoặc hoàn cảnh giao tiếp 1, 32. Mathieson L (2001) cho rằng 8: Giọng nói được xem như là bình thường khi: - Âm xướng lên phải rõ ràng, nó không quá thô ráp và không đứt quãng. - Nó có thể nghe được trong một phạm vi rộng và có thể được nghe thấy ngay cả khi có tiếng ồn bao quanh hay từ đằng sau, khi nói to, mọi người phải đủ nghe.

- Phù hợp với độ tuổi và giới tính, có sự linh hoạt về độ cao. - Giọng nói phải có tính bền vững và không thay đổi trong suốt quá trình phát âm. 7 - Giọng nói bình thường khi phát âm phải thoải mái, người nói có thể tự tin về cách diễn đạt giọng nói của mình 8. Khái quát về ngữ âm của giọng nói  Âm tố (sound) là đơn vị ngữ âm nhỏ nhất, không thể phân chia được nữa.

- Âm tố là đơn vị âm thanh nhỏ nhất của lời nói, có thể tách ra về mặt cấu âm - thính giác, đồng chất trong một khoảng thời gian nhất định và thường ứng với một âm vị. Có thể nói, âm tố là đoạn âm thanh nhỏ nhất, có thể tách ra được từ chuỗi lời nói liên tục, không gắn liền với giá trị khu biệt âm vị học của nó. Âm tố là sự thể hiện cụ thể của âm vị, nó chứa đựng cả một loạt những đặc trưng cần yếu và không cần yếu của âm vị33. Dựa theo cách thoát ra của luồng âm không khí khi phát âm, các âm tố thường được phân ra làm hai loại chính: nguyên âm (vowel) và phụ âm (consonant).

+ Nguyên âm: Nếu âm thoát ra một cách tự do, có một âm hưởng “êm ái”, “dễ nghe”, mà đặc trưng âm học của nó có tần số xác định, có đường cong biểu diễn tuần hoàn thì được gọi là tiếng thanh. Về bản chất âm học, nguyên âm là tiếng thanh. Nói một cách khác, nguyên âm là âm chỉ bao gồm tiếng thanh, không có tiếng động, được tạo ra bằng luồn không khí phát ra tự do, không có chướng ngại33. + Phụ âm: Ngược lại với nguyên âm, phụ âm là tiếng động.

Những tiếng này không “dễ nghe”, có tần số không ổn định, được biểu diễn bằng những đường cong không tuần hoàn. - Ngoài hai loại âm tố chủ yếu trên còn có loại âm tố thứ ba mang tính chất trung gian, đó là các bán nguyên âm hay bán phụ âm. Những âm tố này vừa mang tính chất nguyên âm vừa mang tính chất phụ âm. 8  Các tiêu chí miêu tả và phân loại nguyên âm - Theo vị trí của lưỡi: Có thể chia nguyên âm thành ba dòng: trước, giữa, sau.

- Theo độ mở của miệng: Các nguyên âm được phân thành các nguyên âm có độ mở rộng - hẹp. - Theo hình dáng của đôi môi: Các nguyên âm được chia thành nguyên âm tròn môi - không tròn môi. Ngoài ra còn có các tiêu chuẩn về trường độ, tính mũi hoá. Chúng ta có thể nhận diện các nguyên âm qua hình thang nguyên âm33.

 Các tiêu chí miêu tả và phân loại phụ âm - Về phương thức cấu âm. Có thể chia các phụ âm thành: âm tắc – âm xát - âm rung - âm vang - âm ồn. - Về vị trí cấu âm. Có thể chia các phụ âm thành: âm môi – âm đầu lưỡi - âm mặt lưỡi - âm cuối/gốc lưỡi - âm thanh hầu33.

Giải phẫu cơ quan phát âm: Cơ quan phát âm được phân chia thành ba bộ phận chính 34, 30, 35: - Bộ phận hô hấp dưới: Tạo luồng hơi phát âm. - Bộ phận rung (thanh quản): Tạo ra âm thanh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu rối loạn giọng nói của nữ giáo viên tiểu học huyện Gia Lâm, Hà Nội và đánh giá biện pháp can thiệp" tập trung vào việc phân tích tình trạng rối loạn giọng nói ở nữ giáo viên tiểu học tại huyện Gia Lâm, Hà Nội. Nghiên cứu không chỉ chỉ ra nguyên nhân và ảnh hưởng của rối loạn giọng nói đến công việc giảng dạy mà còn đề xuất các biện pháp can thiệp hiệu quả nhằm cải thiện tình trạng này. Bài viết mang lại lợi ích cho độc giả, đặc biệt là các nhà quản lý giáo dục và giáo viên, giúp họ nhận thức rõ hơn về vấn đề sức khỏe giọng nói và cách thức hỗ trợ đồng nghiệp trong môi trường giáo dục.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản lý giáo dục và các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo các bài viết sau: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học tại các trường tiểu học huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau, nơi đề cập đến quản lý hoạt động dạy học trong bối cảnh giáo dục hiện đại, và Luận văn thạc sĩ về quản lý hoạt động vui chơi cho trẻ 5-6 tuổi tại các trường mầm non quận Long Biên, Hà Nội, giúp bạn hiểu thêm về quản lý hoạt động giáo dục cho trẻ em. Những tài liệu này sẽ cung cấp thêm góc nhìn và thông tin hữu ích cho bạn trong lĩnh vực giáo dục.