CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC RÈN LUYỆN KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO HỌC SINH TIỂU HỌC QUA HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Một số nghiên cứu về giao tiếp và kỹ năng giao tiếp ở nước ngoài GT là vấn đề nghiên cứu được nhiều nhà khoa học quan tâm và được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau như tâm lí, văn hóa, ngôn ngữ, giáo dục…cụ thể như sau. Dưới góc độ tâm lí học: Giao tiếp đặc trưng cho bản chất tâm lí người, của ý thức và nhân cách L.
Các nghiên cứu đã chỉ rõ vai trò của giao tiếp đối với sự hình thành và phát triển của ý thức, đồng thời khẳng định ngôn ngữ và các hệ thống kí hiệu khác không chỉ là phương tiện GT mà còn là công cụ tư duy. Nghiên cứu giao tiếp như là nhu cầu hữu cơ của con người. Các nghiên cứu đã thừa nhận bản chất xã hội của con người, trong đó GT là điều kiện quan trọng thể hiện bản thân đồng thời phát triển các mối quan hệ xã hội.Wallon đã có nhiều minh chứng xác đáng khẳng định các quan hệ xã hội thông qua giao tiếp (giữa mẹ với con, trẻ em với người lớn…) đã có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển nhân cách của trẻ. Từ sự thừa nhận vai trò của giao tiếp trong sự phát triển cá nhân, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra hậu quả của sự thiếu hụt giao tiếp đối với sự phát triển tâm lí trẻ em như M.
Từ góc độ tâm bệnh học, S.Freud đã sử dụng giao tiếp như một phương pháp chữa bệnh cho bệnh nhân tâm thần theo phương thức gợi mở dần để giải phóng các uẩn khúc. Quan điểm giao tiếp được nhìn nhận dưới góc độ hoạt động - gây nhiều tranh luận giữa các nhà khoa học, điển hình là cuộc tranh luận giữa A. Leonchiev coi giao tiếp là một dạng đặc biệt của hoạt động. Lomov coi hoạt động và giao tiếp là 2 phạm trù đồng đẳng với nhau, đặc thù của giao tiếp khác với hoạt động có đối tượng ở chỗ 7 quan hệ trong giao tiếp là quan hệ giữa chủ thể và chủ thể, giữa những nhân cách với nhau, tác động qua lại với nhau một cách sinh động, cụ thể về nhiều mặt.
Hai nhà nghiên cứu đều thừa nhận bản chất xã hội của giao tiếp và thống nhất với nhau về nội dung tâm lí của giao tiếp. Nghiên cứu về phát triển kĩ năng giao tiếp. Tác giả Kak - Hai - Nodich người Đức đã nêu rõ về ngôn ngữ của trẻ có một vai trò quan trọng và quá trình phát triển ở từng giai đoạn. Trong mỗi giai đoạn, nhiệm vụ của người lớn là giúp trẻ thâm nhập vào thế giới ngôn ngữ phong phú và đa dạng, dẫn dắt trẻ từ những âm thanh “gừ, gừ” ở tuổi sơ sinh đến sử dụng, nắm vững ngôn ngữ thành thạo, điều đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển về trí tuệ.
Để nâng cao khả năng giao tiếp cho trẻ, tác giả Linda Maget đã giới thiệu những kỹ năng giao tiếp xã hội, giúp cá nhân con người giải quyết những trở ngại trong việc kết giao bạn bè. Muốn rèn luyện kỹ năng giao tiếp phải tạo môi trường giao tiếp thuận lợi, phải được học, chơi và làm việc với mọi người xung quanh thì mới làm xuất hiện, nảy sinh nhu cầu giao tiếp. Tác giả Steven Gutstin cho rằng để giúp học sinh rèn luyện, phát triển KNGT cần phải hình thành và phát triển mối quan hệ xã hội, giúp họ hiểu được bản thân mình, hiểu được mối quan hệ giữa con người với nhau, với các sự vật, hiện tượng trong thế giới xung quanh. Trong mỗi hoàn cảnh, tình huống có vấn đề cá nhân con người biết cách giao tiếp phù hợp.
Một số nghiên cứu về giao tiếp và kỹ năng giao tiếp trong nước - Những nghiên cứu về cách phân loại KNGT có 2 hướng cơ bản + Căn cứ vào tiến trình diễn biến (các giai đoạn) của GT để xác định các KNGT cần thiết (V. Dakharop, Hoàng Anh, Đỗ Thị Châu và Nguyễn Thạc …). Cách phân loại này có ưu điểm giúp người nghiên cứu dễ dàng nắm bắt được các kỹ năng giao tiếp theo tiến trình diễn ra các hoạt động giao tiếp như: Nhóm kĩ năng định hướng trước giao tiếp, nhóm kĩ năng thực hiện quá trình giao tiếp, nhóm kĩ năng kết thúc giao tiếp. Tuy nhiên hạn chế là các kĩ năng vẫn có thể được lặp lại trong các giai đoạn khác nhau của quá trình giao tiếp.
8 + Cách phân loại thứ hai đi theo hướng đáp ứng những yêu cầu của tiến trình và hoàn cảnh GT đặt ra, dựa vào các yếu tố cấu thành của giao tiếp đã khắc phục được những hạn chế của cách phân loại theo tiến trình GT, Đặng Thành Hưng, Trần Trọng Thủy, Nguyễn Văn Đồng. Họ nêu lên 3 yếu tố cấu thành của GT: thông điệp lời nói; thông điệp qua cách diễn đạt (paraverbal message: thông điệp kèm lời); ngôn ngữ hình thể. Ba yếu tố này cần phải đảm bảo thực hiện hai nhiệm vụ trong giao tiếp: Gửi thông điệp rõ ràng, nhận và hiểu đúng thông điệp, từ đó đưa ra những kĩ năng riêng để thực hiện. - Nghiên cứu những KNGT đơn lẻ: Phát triển kĩ năng nghe (A.
C, Pace và John Steward) đưa ra những yêu cầu cần thực hiện trong khi nghe. Dale Carnegie lại đề cao vai trò việc tạo thiện cảm, và đưa ra cách gây thiện cảm trong GT. Ở Việt Nam một số nghiên cứu hướng vào phát triển kĩ năng nói (lời nói mạch lạc) cho trẻ em. - Các nghiên cứu về giáo dục kỹ năng giao tiếp cho đối tượng học sinh phổ thông và người trưởng thành khá phong phú với cách tiếp cận đa dạng: nghiên cứu kỹ năng giao tiếp và những yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp của học sinh dân tộc thiểu số, học sinh miền núi (Phạm Song Hà, Ngô Giang Nam,); phát triển kỹ năng giao tiếp cho người học ngoại ngữ (Bùi Thị Hiền); giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh phổ thông qua các môn học khác nhau như toán, giáo dục công dân (Đinh Thế Định, Nguyễn Thị Nga, Trần Ngọc Bích, Ngô Giang Nam.
- Nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp và giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ em: Charles. F, Caroline Gooden và Jacqui Kearns đã nghiên cứu và chỉ ra các kỹ năng giao tiếp cơ bản của trẻ nhỏ gồm được các kĩ năng để hiểu và bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc, thông tin. Các nghiên cứu đề cao vai trò của các tác động giáo dục đúng hướng từ gia đình và nhà trường tới sự phát triển kỹ năng giao tiếp của trẻ nhỏ. Rae Pica đặc biệt chú ý tới các vận động của cơ thể và coi đó như một loại kỹ năng giao tiếp, sự tích cực hoạt động tạo ra các cơ hội giải tỏa cho trẻ và tăng các mối quan hệ.
David Warden, Donald 9 Christie đã chỉ ra những yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới sự phát triển GT của trẻ và cách thức luyện tập kỹ năng giao tiếp cho trẻ phải căn cứ trên những yếu tố ảnh hưởng nêu trên. Các nghiên cứu thực tiễn về kỹ năng giao tiếp ở một số quốc gia như Mỹ (Caroline Gooden, Jacqui Kearns) đã đề cao vai trò của kỹ năng giao tiếp trong sự phát triển chung của trẻ em, đã xem xét sự phát triển kỹ năng giao tiếp của trẻ trong mối quan hệ với sự chăm sóc, giáo dục, giữa kỹ năng giao tiếp với sự phát triển nhận thức, đưa ra hướng dẫn để phát triển các kỹ năng giao tiếp cho trẻ (tác động tới cha mẹ trẻ, cộng đồng, khai thác các nguồn tài nguyên sẵn có…). Tara Winterton nghiên cứu những kỹ năng giao tiếp cho trẻ em dưới 13 tuổi có khó khăn trong GT tại Nepal, đã đưa ra các kĩ thuật tác động đối với trẻ đặc biệt. Các nghiên cứu nước ngoài đã cho thấy kỹ năng giao tiếp được đánh giá cao đồng thời chỉ ra mối quan hệ chặt chẽ giữa sự phát triển các kỹ năng giao tiếp với các tác động giáo dục và môi trường sống của trẻ.
Ở Việt Nam hiện nay, các nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp của học sinh tiểu học chưa nhiều và chưa tập trung, chưa có nghiên cứu nào xác định đầy đủ và có hệ thống các kỹ năng giao tiếp trong độ tuổi này. Về giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ em mới có nghiên cứu về phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ khuyết tật (Nguyễn Thị Thanh, Nguyễn Thị Quỳnh Anh, Đinh Thị Hồng Vân, Phan Minh Tiến ). -Những nghiên cứu kỹ năng giao tiếp tập trung khá lớn vào góc độ chuyên môn, nghề nghiệp: giao tiếp trong môi trường sư phạm, quy trình thực hiện và những kỹ năng giao tiếp (Trần Trọng Thủy, Ngô Công Hoàn, Nguyễn Văn Lê, kỹ năng giao tiếp trong công tác hành chính).Từ góc độ nghề nghiệp, các nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp rất phong phú thể hiện tính cập nhật và khả năng ứng dụng cao vào từng lĩnh vực nghề cụ thể. Một số khái niệm 1.
Kỹ năng Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về KN và đưa ra những khái niệm khác nhau, qua nghiên cứu chúng tôi thấy nổi lên ba khuynh hướng sau: - Khuynh hướng thứ nhất: Coi KN là mặt kỹ thuật thao tác hành động hay hoạt động. Đại diện cho quan niệm này là các tác giả như:V. Các tác giả này cho rằng, muốn thực hiện được một hành động cá nhân phải có tri thức về hành động đó, tức là phải hiểu được mục đích, phương thức và các điều kiện để thực hiện nó. Vì vậy, nếu ta nắm được các tri thức về hành động, thực hiện được nó trong thực tiễn là ta đã có KN hành động.Krutretxki (1981) cho rằng: KN là phương thức thực hiện hoạt động-cái mà con người lĩnh hội được; A.Petrovxki: KN là sự vận dụng những tri thức, kỹ xảo đã có để lựa chọn thực hiện những phương thức hành động tương ứng với mục đích đề ra; Như vậy, với quan điểm này, việc rèn luyện KN sẽ chú trọng tới việc rèn luyện từng thao tác, kỹ thuật, coi KN như là phương thức thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện hành động, họ chưa nói tới kết quả hành động.
- Khuynh hướng thứ hai: Xem xét KN nghiêng về mặt năng lực con người, khẳng định KN được xem như một thành tố quan trọng để thực hiện một công việc có kết quả với chất lượng cần thiết và với một thời gian tương ứng trong điều kiện có thể. KN không chỉ là mặt kỹ thuật của hành động mà còn là biểu hiện của năng lực. Khuynh hướng này chú ý đến kết quả của hành động.