Chương 1: Cơ sở lý luận Chương 2: Tổ chức thực hiện và phƣơng pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu Kết luận Tài liệu tham khảo Phụ lục 10 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA PHƢƠNG PHÁP GIẢNG DẠY VỚI PHƢƠNG PHÁP HỌC TẬP 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu về phương pháp giảng dạy Từ cuối thế kỷ XIX, giữa thế kỷ XX, Một xu hƣớng xuất hiện và đƣợc đề cập đến, đó là việc các chuyên gia ở phƣơng Tây khẳng định trào lƣu giảng dạy lấy ngƣời học làm trung tâm là một phong trào tiến bộ trong giáo dục. Các lý thuyết, mô hình giảng dạy hƣớng vào ngƣời học đƣợc nghiên cứu và phát triển.
Có thể kể đến các lý thuyết nổi bật nhƣ lý thuyết của J. Dewey, thuyết giáo dục của những ngƣời bị áp bức (Pedagogy of oppressed) của P. Feire, giáo dục và liệu pháp giảng dạy hƣớng vào ngƣời học (Learner- centered education, Client-centered Therapy) của Rogers, lý thuyết học tập và các chiến lƣợc hƣớng vào cá nhân (Learning theory, Individual-centered strategy) của Lewin, lý thuyết nhân quả và hệ động cơ (Causality and motivation theory) của R. de Charms và Weiner, lý thuyết những nhu cầu cơ bản của con ngƣời của Maslow…Trong trào lƣu này, ngƣời ta vẫn sử dụng các phƣơng pháp quen thuộc nhƣ đối thoại, thuyết trình, thảo luận…Các lý thuyết, mô hình này không tạo ra phƣơng pháp giảng dạy mới nào nhƣng lại đƣa các phƣơng pháp truyền thống vào những cấu trúc mới.1 Mô hình giảng dạy lấy ngƣời học làm trung tâm Cynthia Benzing (1997) đã khảo sát các giáo viên ngành kinh tế về phƣơng pháp giảng dạy họ sử dụng.
Hai giáo sƣ này đã gửi bảng hỏi bằng thƣ điện tử cho 500 giáo viên-thành viên của Hiệp hội Kinh tế Hoa Kỳ (mẫu đƣợc chọn ngẫu nhiên, thực tế chỉ gửi đƣợc cho 456 ngƣời) vào tháng 10 năm 1994. Tỉ lệ trả lời là 45% (207/456). Bảng hỏi gồm các câu hỏi mở về phong cách giảng dạy, những thay đổi trong phƣơng pháp giảng dạy, làm thế nào sinh viên học tốt nhất, có sự khác nhau giữa sinh viên đƣợc giảng dạy ban ngày và ban đêm hay không. Kết quả nghiên cứu cho thấy phƣơng pháp thuyết trình sử dụng bảng đen, sách giáo khoa, thảo luận là phƣơng pháp phổ biến trong khối ngành kinh tế.
Mặc dù vậy, nhiều giáo viên đã thay đổi phƣơng pháp trong suốt năm năm qua theo hƣớng thúc đẩy sinh viên tham gia sâu hơn vào thảo luận, các hoạt động nhóm, đƣa các câu hỏi. Mark Young, Eve Rapp và James Murphy (2010) khảo sát về mô hình Nghiên cứu hành động (Action research). Mô hình nghiên cứu hành động giúp giáo viên ghi nhận, đánh giá các hoạt động giảng dạy và học tập, từ đó giúp họ có những cải tiến chất lƣợng hoạt động của mình cũng nhƣ chia sẻ tài liệu có đƣợc từ hoạt động giảng dạy.2 Quy trình của mô hình Nghiên cứu hành động Các tác giả này tìm hiểu sự áp dụng mô hình Nghiên cứu hành động trong một học kỳ của ba giáo sƣ khi giảng dạy các khái niệm tiếp thị bằng hoạt động bán các sản phẩm bánh (cake sale) nhằm truyền tải các khái niệm tiếp thị cho một lớp học về Nguyên tắc tiếp thị. Nghiên cứu cho thấy mô hình này nâng cao chất lƣợng giảng dạy và học tập.
Mark Young, Eve Rapp và James Murphy khuyên giáo viên nên có nhật ký nghiên cứu hoặc bài viết cập nhật, theo dõi hoạt động giảng dạy và học tập hàng ngày của sinh viên. Nhà nghiên cứu Allan C.Ornstein và Thomas J.Lasley (2000) đã đề cập đến các kỹ năng, kỹ thuật của việc dạy học, xem việc giảng dạy vừa là nghệ thuật vừa là khoa học. Mục đích nghiên cứu của họ nhằm cung cấp cho giáo viên những kỹ năng cơ bản cũng nhƣ cái nhìn bao quát về dạy học nhằm góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác giảng dạy. Các kỹ năng, kỹ thuật dạy học mà các nhà nghiên cứu nêu lên bao gồm: Thiết kế các mục tiêu giảng dạy, lập kế hoạch giảng dạy, các chiến lƣợc giảng dạy, tƣ liệu giảng dạy, công 13 nghệ trong dạy học, phân nhóm quản lý lớp học và kỷ luật, đánh giá sự tiến bộ của học sinh.
Ở Việt Nam có các nghiên cứu về thực trạng và cải tiến phƣơng pháp giảng dạy. Tác giả Trần Lê Hữu Nghĩa (2008) nhìn nhận khá toàn diện về tình hình giảng dạy và học tập tại các trƣờng đại học nƣớc ta: “giáo viên vẫn là ngƣời ra quyết định, là nhân vật trung tâm của lớp học…Sinh viên Việt Nam không đƣợc dạy bằng phƣơng pháp tích cực, chủ yếu là nghe giảng và ghi chép…thiếu sự tƣơng tác. Vì vậy, thay đổi phƣơng pháp giảng dạy là vấn đề cần đƣợc quan tâm để góp phần nâng cao chất lƣợng đào tạo”. Tác giả Ngô Tứ Thành (2008) trong bài nghiên cứu của mình “Giải pháp đổi mới phƣơng pháp giảng dạy ở các trƣờng đại học hiện nay” đã chứng minh sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông trên toàn thế giới khiến triết lý giáo dục Việt Nam cần phải thay đổi, từ đó đƣa ra một số giải pháp đổi mới phƣơng pháp giảng dạy ở các trƣờng đại học.
Tác giả đã chỉ ra sự cần thiết của việc ứng dụng công nghệ thông tin vào cải tiến phƣơng pháp giảng dạy. Ông đề xuất phƣơng pháp giảng dạy cần lấy xu hƣớng lấy ngƣời học làm trung tâm làm chủ đạo, đƣợc cụ thể hoá thành phƣơng pháp 3C (Cách - Chủ động của ngƣời học - Công nghệ thông tin và truyền thông) rất cần thiết trong vấn đề cải thiện chất lƣợng học tập và giảng dạy hiện nay nghiên cứu đề xuất ba tiêu chí giáo viên cần xem xét là ƣu tiên hàng đầu trong công tác giảng dạy đó là: giảng dạy phải là dạy cách học, cách nghiên cứu; cần phát huy mạnh mẽ tính chủ động của ngƣời học; công cụ cần khai thác triệt để là công nghệ thông tin và truyền thông. Các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa phương pháp giảng dạy với phương pháp học tập Hoạt động dạy và học là hai hoạt động cơ bản trong quá trình đào tạo. Đây là hai phƣơng diện không thể tách rời.
Qua các tài liệu nghiên cứu đã cho 14 thấy tiêu chí phổ biến nhất để đánh giá chất lƣợng giảng dạy là số lƣợng ngƣời học trong đó có mối tƣơng quan nhất quán tƣơng đối cao giữa sự đánh giá của sinh viên về chất lƣợng học và sự đánh giá chung của họ về giảng viên và khóa học. Theall và Franklin (2001) trong nghiên cứu của mình đã chỉ ra rằng: Số lƣợng ngƣời học nhiều hơn trong khóa học thƣờng đánh giá giảng viên của họ cao hơn. Cùng quan điểm này, Thomas Angelo cho rằng “dạy mà không có tƣơng tác của việc học thì chỉ là nói chuyện". Còn trong nghiên cứu của Doyle.T, ông cho rằng: Hiệu quả giảng dạy của giảng viên thật sự nằm ở cách học tập của ngƣời học.
Nghiên cứu của Doyle cho thấy rằng “Sinh viên là những đối tƣợng nghiên cứu đủ điều kiện để báo cáo về trải nghiệm học tập nào là phong phú, nhiều thông tin, thỏa mãn, hay đáng giá. Các ý kiến về những vấn đề này không phải là sự đo lƣờng trực tiếp về ngƣời dạy hoặc hiệu quả của khóa học, chúng chỉ là các chỉ số pháp lý về sự hài lòng của sinh viên, và có sự liên kết cần thiết giữa sự hài lòng của sinh viên với việc giảng dạy hiệu quả, là đáng kể nghiên cứu liên kết sự hài lòng của sinh viên để giảng dạy hiệu quả”. Một phân tích tổng hợp của 41 nghiên cứu cung cấp bằng chứng mạnh mẽ về giá trị của sự đánh giá của sinh viên kể từ khi các nghiên cứu điều tra mối quan hệ giữa sự đánh giá từ sinh viên và việc học tập của sinh viên. Doyle qua nghiên cứu của mình đã chỉ ra "Việc sử dụng đánh giá của ngƣời học để đánh giá hiệu quả giảng viên là vấn đề đang đƣợc nghiên cứu nhiều nhất trong tất cả các nền giáo dục đại học.
Hơn 2000 bài báo và sách đã đƣợc viết về chủ đề này trong vòng 70 năm qua ". Đồng thời nghiên cứu của ông cũng cho thấy việc đánh giá của sinh viên với việc giảng dạy nói chung thì đánh giá của sinh viên có tính chất đáng tin cậy, hợp lệ, tƣơng đối không thiên vị và hữu ích. Nhƣ vậy trong các nghiên cứu này đều chỉ ra sự tác động qua lại giữa cách dạy của giáo viên và cách học của sinh viên trong nâng cao chất lƣợng đào tạo. 15 Hầu hết các trƣờng đại học đều đang theo tiến trình là sinh viên sẽ cung cấp thông tin phản hồi vào cuối mỗi khóa học họ hoàn thành.
Những đánh giá về hiệu quả của giảng viên đã trở thành một chủ đề nóng kể từ khi chúng đƣợc sử dụng lần đầu tiên vào giữa năm 1920 và chúng tạo ra một thách thức to lớn cho gần nhƣ tất cả các trƣờng mà sử dụng chúng. Trong những năm qua, việc sinh viên đánh giá giảng viên đã thay đổi đáng kể, đặc biệt là về mục đích và phƣơng pháp luận. Ory (2000) đã khảo sát mục đích sinh viên đánh giá giảng viên đã chỉ ra: Mục đích đã đƣợc chuyển đổi từ việc chủ yếu sử dụng để hỗ trợ sinh viên trong việc lựa chọn các khóa học, sang giúp giảng viên tiếp tục phát triển và nâng cao kỹ năng giảng dạy, và hỗ trợ các nhà quản lý giáo dục trong các quyết định nhân sự của họ. Việc đánh giá này sẽ giúp giáo viên nhận rõ những ƣu nhƣợc điểm trong cách dạy của mình để điều chỉnh cho phù hợp với từng đối tƣợng, lớp học để tạo sự hứng thú cho ngƣời học cũng nhƣ nâng cao chất lƣợng giờ dạy thu hút đƣợc số đông ngƣời học.
Đồng thời, ngày nay, đánh giá của sinh viên về chất lƣợng giảng dạy đƣợc sử dụng rộng rãi trong các quyết định liên quan đến nhân sự và đề nghị nâng cao trình độ giảng viên. Franklin (2001) qua khảo sát của mình đã chỉ ra: Đối với các nhà quản lý, các thông tin bắt nguồn từ đánh giá của sinh viên giúp họ trong việc đƣa ra tổng kết và thông báo về nhân sự, nhiệm kỳ, xúc tiến, tuyển dụng, lựa chọn giảng viên giảng dạy cho các cuộc thi tuyển chọn danh hiệu danh dự, và trong việc phân công giảng viên cho các khóa học. Giảng viên sử dụng các dữ liệu này để phát triển và nâng cao hiệu quả giảng dạy của họ.