Chương 1: Tổng quan về đánh giá chất lƣợng hoạt động giảng dạy đại học Chương 2: Thực trạng hoạt động giảng dạy và đánh giá tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền Chương 3: Hệ thống đánh giá chất lƣợng các hoạt động giảng dạy đại học tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền Chương 4: Một số giải pháp nâng cao chất lƣợng giảng dạy tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền Phần thứ ba: Kết luận Tài liệu tham khảo và các phụ lục. 8 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƢỢNG HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY ĐẠI HỌC 1. Đánh giá Đánh giá là việc căn cứ vào các số đo và các tiêu chí để xác định năng lực và phẩm chất của sản phẩm đào tạo để nhận định, phán đoán và đề xuất các quyết định nhằm không ngừng nâng cao chất lƣợng sản phẩm. Trong giáo dục có 6 loại đánh giá chính: - Đánh giá mục tiêu đào tạo đáp ứng với yêu cầu kinh tế xã hội; - Đánh giá chƣơng trình/ nội dung đào tạo; - Đánh giá sản phẩm đào tạo đáp ứng mục tiêu đào tạo; - Đánh giá quá trình đào tạo; - Đánh giá tuyển dụng; - Đánh giá kiểm định công nhận cơ sở đào tạo [19].
Giảng dạy Giảng dạy là sự điểu khiển tối ƣu hóa quá trình SV chiếm lĩnh khái niệm khoa học, trong và bằng cách đó, phát triển và hình thành nhân cách. Giảng dạy và học tập có những mục đích cụ thể khác nhau. Nếu học tập nhằm vào việc chiếm lĩnh khái niệm khoa học thì giảng dạy lại có mục đích là điều khiển sự học tập. Giảng dạy có hai chức năng thƣờng xuyên tƣơng tác với nhau, thâm nhập vào nhau, sinh thành ra nhau đó là truyền đạt thông tin dạy học và điều khiển hoạt động học (GS.
Nguyễn Ngọc Quang). Lê Đức Ngọc – ĐHQG Hà Nội thì dạy đại học là dạy nhận thức, dạy kĩ năng và và dạy cảm nhận. Tùy theo khoa học (Tự nhiên hay Xã hội – nhân văn, Cơ bản hay Công nghệ, Kĩ thuật .) và tùy theo mục tiêu đào tạo (đại học hay sau đại học, chuyên môn hay nghiệp vụ,.) mà chọn chủ điểm hay trọng tâm về dạy nhận thức, dạy kĩ năng hay dạy cảm nhận cho phù hợp [19]. Tính nghệ thuật của việc giảng dạy đại học thể hiện ở năng lực truyền đạt của 9 z ngƣời dạy làm sao cho khơi dậy đƣợc tiềm năng tiếp thu, phát triển và sáng tạo của SVđể nhận thức, để cảm nhận và để có kĩ năng cao.
Một số quan niệm Dạy học hiện đại a. Quá trình dạy học đại học là một quá trình nhận thức có tính chất nghiên cứu của SVdƣới sự chỉ đạo của ngƣời cán bộ giảng dạy, là một quá trình hai mặt (dạy và học) nhằm đạt đƣợc các nhiệm vụ dạy học, đạt đƣợc chất lƣợng và hiệu quả dạy học ở đại học. Dạy là quá trình tổ chức nhận thức cho SV; bản chất của dạy học là tổ chức nên các tình huống học tập “các tình huống gia cố”, trong đó SV sẽ hoạt động tích cực dƣới sự hƣớng dẫn ít nhiều của GV nhằm đạt đƣợc chất lƣợng và hiệu quả dạy học. Trong quá trình này, SV luôn luôn phải hoạt động tích cực, phải đƣợc tăng cƣờng, củng cố, khen thƣởng, xác nhận ngay.
Dạy học là một quá trình điều khiển và tự điều khiển và là một quá trình có thể điều khiển đƣợc. Dạy học là một quy trình công nghệ đặc biệt. Quá trình dạy học là một hệ thống cân bằng động, gồm nhiều nhân tố tác động qua lại lẫn nhau theo những qui luật và nguyên tắc nhất định nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học, nhằm đạt đƣợc chất lƣợng và hiệu quả dạy học. Ở đây cần phải đặc biệt chú ý đến một số nguyên tắc cơ bản sau: Nguyên tắc dạy học phải xuất phát từ SV, đầu vào, lấy SV làm trung tâm; Nguyên tắc hoạt động; Nguyên tắc đấu tranh nhận thức; Nguyên tắc các đoạn ngắn xác nhận ngay.
Từ những luận điểm trên, chúng ta có thể đi đến luận điểm quan trọng là: Dạy học về bản chất là một quá trình thiết kế và góp phần thi công của GV và học tập về bản chất là một quá trình tự thiết kế và trực tiếp thi công của SV dƣới sự hƣớng dẫn, hỗ trợ ít nhiều của GV nhằm đạt đƣợc chất lƣợng và hiệu quả dạy học. Giảng dạy tốt GV muốn giảng dạy tốt cần phải thực hiện các yêu cầu sau: Một là, GV cần hiểu rõ môi trƣờng xã hội, trong đó diễn ra việc giảng dạy. Ở đây, GV cần hiểu những đặc điểm, điều kiện cơ bản của thời đại, những yêu cầu 10 z của môi trƣờng kinh tế xã hội, cách mạng xã hội, cách mạng khoa học kĩ thuật nói chung đối với việc đào tạo con ngƣời mới. Hai là, GV cần hiểu tính chất và đặc điểm điều kiện của nhà trƣờng trong đó diễn ra việc dạy học.
Ba là, GV cần nắm vững mục đích, mục tiêu và nhiệm vụ dạy học; mục đích này đƣợc quyết định trực tiếp bởi môi trƣờng kinh tế - xã hội và môi trƣờng đào tạo, nhiệm vụ dạy học phải là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của nhà trƣờng, của GV và ngƣời học. Bốn là, GV cần hiểu rõ SV, trình độ ban đầu của họ so với nhiệm vụ dạy học, nói cách khác là hiểu rõ đầu vào. GV cũng cần trực tiếp tác động đến SV bằng nhân cách của mình (cách cƣ xử với SV). Năm là, GV cần nắm vững và lựa chọn nội dung dạy học một cách phù hợp, ở đây GV cần dựa vào yêu cầu của môn học, số giờ học và trình độ ban đầu của SV để lựa chọn nội dung dạy học cho phù hợp.
Sáu là, GV cần phải lựa chọn một cách đúng đắn và thích hợp các phƣơng pháp, phƣơng tiện và hình thức tổ chức dạy học, ở đây GV căn cứ vào đầu ra, đầu vào và nội dung dạy học. Bảy là, GV cần biết khai thác các động lực bên ngoài và bên trong của quá trình dạy học nhằm khuyến khích SV tự học. Tám là, GV cần biết hạn chế các yếu tố nhiễu tác động đến SV, các yếu tố tiêu cực, các phản động lực làm hại đến việc học tập của họ. Ví dụ: tiếng ồn, dƣ luận không đúng về môn học, về nghề nghiệp.
các nhiễu của đời sống xã hội khó khăn. Chín là, trong quá trình lựa chọn nội dung và vận dụng các phƣơng pháp, phƣơng tiện và hình thức tổ chức dạy học, GV cần tuân theo các qui luật và nguyên tắc dạy học. Cuối cùng, GV cần hƣớng dẫn SV học tập một cách logic, muốn thế GV cần nắm vững bản chất của quá trình dạy học và logic vận động của nó. Chất lƣợng “Chất lƣợng” là một khái niệm phức tạp, đa chiều.
Mỗi ngƣời có thể đƣa ra 11 z những quan niệm hay định nghĩa khác nhau. Khái niệm “chất lƣợng” có thể hiểu đƣợc, nhƣng khó giải thích và diễn đạt đầy đủ, rõ ràng (Green, 1994) [41]. Dƣới đây là một số cách hiểu về khái niệm “chất lƣợng”. Chất lƣợng là “Tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc) làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác” [34].
Chất lƣợng là “cái làm nên phẩm chất, giá trị của sự vật” hoặc là “cái tạo nên bản chất sự vật, làm sự vật này khác sự vật kia” [35]. Chất lƣợng là “mức hoàn thiện, là đặc trƣng so sánh hay đặc trƣng tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các dữ kiện, các thông số cơ bản” [35]. Chất lƣợng là mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp các đặc tính vốn có trong đó yêu cầu đƣợc hiểu là các nhu cầu hay mong đợi đã đƣợc công bố, ngầm hiểu hay bắt buộc (Định nghĩa của ISO 9000 – 2000). Chất lƣợng là “tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tƣợng) tạo cho thực thể (đối tƣợng) đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn” (TCVN – ISO 8402).
Chất lƣợng trong giáo dục đại học Quan niệm và một số cách tiếp cận về đánh giá chất lượng trong giáo dục đại học Cũng tƣơng tự nhƣ khái niệm về “chất lƣợng”, khái niệm “chất lƣợng trong giáo dục đại học” hay “chất lƣợng GD ĐH” đang đƣợc hiểu theo nhiều cách khác nhau. Trong các định nghĩa khác nhau đƣợc đƣa ra về thuật ngữ “chất lƣợng GDĐH” của nhiều tác giả, định nghĩa của Green và Harvey (1993) có tính khái quát và hệ thống hơn cả [42]. Họ đề cập đến năm khía cạnh của chất lƣợng GDĐH: chất lƣợng là sự vƣợt trội (hay sự xuất sắc); là sự hoàn hảo (kết quả hoàn thiện, không sai sót); là sự phù hợp với mục tiêu (đáp ứng nhu cầu của khách hàng); là sự đáng giá về đồng tiền (trên khía cạnh đáng giá để đầu tƣ); là sự chuyển đổi (sự chuyển đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác). Trong số các định nghĩa trên, định nghĩa:“ chất lƣợng là sự phù hợp với mục tiêu” đang đƣợc sử dụng bởi nhiều cơ quan bảo đảm chất lƣợng trên thế giới nhƣ: Hoa Kỳ, Anh 12 z Quốc, các nƣớc Đông Nam Á… [50].
Glen (1998) xem xét chất lƣợng dƣới một số góc độ dƣới đây: a. Chất lượng được đánh giá bằng “Đầu vào” Một số nƣớc phƣơng Tây có quan điểm cho rằng “Chất lƣợng một trƣờng đại học phụ thuộc vào chất lƣợng hay số lƣợng đầu vào của trƣờng đó”. Quan điểm này đƣợc gọi là “quan điểm nguồn lực” có nghĩa là: Nguồn lực = chất lƣợng. Theo quan điểm này, một trƣờng đại học tuyển đƣợc SV giỏi, có đội ngũ cán bộ giảng dạy uy tín, có nguồn tài chính cần thiết để trang bị các phòng thí nghiệm, giảng đƣờng, các thiết bị tốt nhất đƣợc xem là sẽ có chất lƣợng cao.
Quan điểm này đã bỏ qua sự tác động của quá trình đào tạo diễn ra rất đa dạng và liên tục trong một thời gian dài trong trƣờng đại học (3 đến 6 năm). Thực tế theo cách đánh giá này quá trình đào tạo đƣợc xem là một “hộp đen”, chỉ dựa vào sự đánh giá “đầu vào” và phỏng đoán chất lƣợng “đầu ra”. Sẽ khó giải thích trƣờng hợp một trƣờng đại học có nguồn lực “đầu vào” dồi dào nhƣng chỉ có những hoạt động đào tạo hạn chế; hoặc ngƣợc lại, một trƣờng có nguồn lực khiêm tốn, nhƣng đã cung cấp cho SVmột chƣơng trình đào tạo hiệu quả. Chất lượng được đánh giá bằng “đầu ra” Một quan điểm khác về chất lƣợng GD ĐH cho rằng “đầu ra” của GD ĐH có tầm quan trọng hơn nhiều so với “đầu vào” của quá trình đào tạo.