CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC CỐ VẤN HỌC TẬP TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý công tác cố vấn học tập 1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước Trên thế giới nội dung liên quan đến vấn đề cố vấn học tập đã được đề cập nhiều trong các công trình nghiên cứu và trên các tạp chí khoa học. Các nội dung nghiên cứu về cố vấn học tập tập trung vào các nội dung như: sự ra đời của cố vấn học tập, vai trò, nhiệm vụ của cố vấn học tập tại Trường học, những bất cập trong công tác cố vấn học tập. Đối với sự ra đời của cố vấn học tập tại trường học, Theo các tác giả Morison (1946), Rudolph (1962), Frost (2000) cho rằng, hoạt động cố vấn học tập hình thành nhưng chưa được định nghĩa.
Từ năm 1636, tại trường Đại học Harvard các giáo viên và sinh viên cùng sống trong một tòa nhà, họ cùng ăn uống, thư giãn, giải trí, cầu nguyện và tuân theo những kỷ luật chung. John Ducan (1823) cho biết, chỉ cần “một hiệu trưởng, hai giáo sư và hai trợ giảng thì có thể trở thành một trường học hoàn chỉnh” vì công việc chính của giảng viên là trợ giúp sinh việc trong sinh hoạt, học tập. Theo Frost (2000), từ năm 1870 đến 1970 là giai đoạn “Cố vấn học tập trở thành một hoạt động được định nghĩa nhưng chưa được kiểm tra”. Rudolph (1962) cho biết, khi việc học tập của SV được thiết kế theo chương trình (năm 1877) thì sinh viên cần có một người theo dõi sát sao để hướng dẫn cụ thể.
Còn Gordon (1992), Brian Gillispie (2009), Strange (1994), Strommer (1999) thì đây chính là thời kỳ hoạt động của các cố vấn học tập được định hướng một cách rõ ràng nhất, cố vấn học tập hướng dẫn cho sinh viên chọn môn học như thế nào cho phù hợp với nhu cầu và năng lực. Đối với nghiên cứu của Frost (2000) đã xác định từ năm 1970 cho đến nay, hoạt động “cố vấn học tập đã trở thành một hoạt động được định nghĩa và kiểm tra”. Đây là giai đoạn hình thức đào tạo theo tín chỉ được gọi tên, và chức danh cố vấn học tập cũng chỉ bắt đầu xuất hiện khi có hình thức đào tạo theo tín chỉ. 10 Từ các nghiên cứu trên có thể thấy, hoạt động cố vấn học tập đã có từ rất sớm nhưng chưa chính thức được đặt tên.
Việc thay đổi hình thức đào tạo từ truyền thống sang đào tạo theo tín chỉ là yếu tố chính dẫn đến sự ra đời của chức danh “cố vấn học tập” ngày nay. Vai trò, nhiệm vụ của cố vấn học tập được xác định một cách rõ ràng nhằm hoạt động mang tính hiệu quả. Ở nội dung này, có nhiều tác giả đã nghiên cứu và chỉ ra các vấn đề tiêu biểu. Mô hình này nhấn mạnh vai trò chủ động nhập cuộc của nhà cố vấn, không chờ đợi sinh viên yêu cầu.
Nhà cố vấn chủ động xâm nhập vào đời sống sinh viên, việc học tập của họ trong những thời điểm quan trọng như lựa chọn chương trình, lập kế hoạch học tập, chọn chuyên ngành, các kì thi, đặc biệt là với sinh viên năm đầu và năm cuối khi tốt nghiệp, thu xếp nơi ở và đi lại trong khóa học của sinh viên., 1975) Theo tác giả Lazovsky, Rivka, Shimoni, Aviva đã cho rằng với nhận thức về vai trò công tác tư vấn và thực hiện vai trò này trên thực tế, tác giả đã tiến hành nghiên cứu trên 02 nhóm cố vấn giàu kinh nghiệm và nhóm cố vấn tập sự. Kết quả nghiên cứu đề cao vai trò cố vấn chuyên nghiệp giàu kinh nghiệm (Rivka Lazovsky và Aviva ShimoniLazovsky, 2007). Còn theo tác giả John H. Borgard (1981): Chúng ta cần một cái gì nhiều hơn để hoạt động.
CVHT không chỉ hỗ trợ cho việc giảng dạy và nghiên cứu, mà còn đạt được chức năng giáo dục thật sự hơn. “Một cái gì đó nhiều hơn chính là nền tảng lý thuyết tiếp cận cho hoạt động của CVHT” (dẫn theo, L. Jordan) Adena và cộng sự (2013) cũng đã thực hiện một nghiên cứu về đánh giá tác động đối với việc tư vấn theo nhu cầu của sinh viên. Họ đã tiến hành nghiên cứu thông qua các yếu tố chính như trách nhiệm của cố vấn học tập, trao quyền liên quan đến cố vấn và trách nhiệm của sinh viên, kỹ năng học tập và nhận thức hỗ trợ liên quan đến sinh viên.
Nghiên cứu của họ chỉ ra rằng tất cả các yếu tố đều có tác động đáng kể đến thành công trong học tập của sinh viên. Erlich và Russ-Eft (2013) 11 xác định rằng có mối tương quan thuận giữa việc tư vấn học tập và kế hoạch học tập của sinh viên. Đã xác định rằng quá trình lập kế hoạch học tập của sinh viên đã mang lại hiệu quả đáng kể khi dựa trên sự tư vấn của cố vấn. Những bất cập trong công tác cố vấn học tập đã được tác giả Veysey (1965) nhận ra có những bất cập như thái độ của cố vấn học tập “đang dần thoái hóa và trở thành một công việc hời hợt”, các kỹ năng tư vấn trong lượt tư vấn đang trở thành “những buổi trò chuyện bâng quơ, vắn tắt”.
Các cố vấn học tập bị phân tâm giữa những việc giảng dạy với các áp lực khác. Tóm lại, từ các nghiên cứu trên, có thể nhận thấy vai trò quan trọng của công tác CVHT từ lúc học chế tín chỉ ra đời. Đối với CVHT, ngoài công tác giảng dạy còn phải thực hiện các nhiệm vụ khác như tư vấn cho SV, hướng dẫn sinh viên lập kế hoạch học tập, định hướng nghề nghiệp, lựa chọn chuyên ngành và các hoạt động khác trong suốt quá trình SV học tập tại trường. Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra được việc hiệu quả của đội ngũ CVHT giàu kinh nghiệm, có thể nói nếu đội ngũ CVHT giàu kinh nghiệm sẽ hỗ trợ tối ưu cho nhà trường, điều này cũng là một trong những hạn chế của đội ngũ CVHT ở Việt Nam vì còn thiếu kinh nghiệm.
Bên cạnh việc kinh nghiệm thì các yếu tố bổ trợ cũng góp phần nâng cao chất lượng của CVHT như kỹ năng tư vấn, kỹ năng xử lý vấn đề,…giúp CVHT thực hiện công tác thuận tiện hơn.2 Tình hình nghiên cứu trong nước Cũng như các nước trên thế giới, Việt Nam cũng đang dần hòa nhập với những đổi mới của nền giáo dục trên thế giới. Ở trong nước cũng ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu về cố vấn học tập ở trường học. Đây là một vấn đề khá mới nhưng nhận được rất nhiều quan tâm của các nhà nghiên cứu trong giáo dục, kết quả cho thấy là các hội thao khoa học, tạp chí chuyên ngành giáo dục có rất nhiều sản phẩm liên quan đến công tác cố vấn học tập xoay quanh các nội dung như vai trò, nhiệm vụ của cố vấn học tập trong đào tạo tín chỉ, phát triển đội ngũ cố vấn học tập và những khó khăn của công tác cố vấn học tập Năm 1988, nhiều trường Đại học Việt Nam đã thực hiện theo chủ trương của 12 Bộ Giáo dục và Đào tạo áp dụng học chế mềm dẻo kết hợp với mo-đun hóa kiến thức theo học phần – đơn vị học trình. Ở vào giai đoạn này, về cơ bản học chế giáo dục Đại học Việt Nam cũng đang áp dụng có nhiều yếu tố giống với hệ thống tín chỉ của giáo dục Đại học trên thế giới.
Từ năm 1993 đến năm 1995 lần lượt các trường như Đại học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Đà Lạt và một số đông các trường Đại học khác ở cả nước bắt đầu áp dụng học chế học phần – đơn vị học trình gần giống với hệ thống tín chỉ hơn. Đến năm 2001, Việt Nam chính thức bắt đầu áp dụng phương thức đào tạo theo tín chỉ thay cho học chế học phần tại các trường Đại học và Cao đẳng trên cả nước. Tuy việc áp dụng chưa diễn ra đồng loạt ở các trường từ Bắc vào Nam nhưng với việc thay đổi phương thức đào tạo theo tín chỉ là sự xuất hiện của “cố vấn trường học”. Về sau, cụm từ cố vấn trường học được thay thế thành cố vấn học tập trong việc tư vấn học tập cho sinh viên và đã được quy định trong các Quy chế có liên quan đến hoạt động đào tạo tại các Trường.
Đối với vai trò, nhiệm vụ của cố vấn học tập tại Việt Nam có nhiều tác giả đã nghiên cứu về nội dung này. Theo tác giả Thiều Thị Hường, vai trò của cố vấn học tập được xem như là một yếu tố quyết định đến hiệu quả học tập của sinh viên, trong đó đáng chú ý là đối tượng sinh viên năm thứ nhất. Cụ thể, trong một khảo sát về vai trò cố vấn học tập có đến tỉ lệ 100% đánh giá rất quan trọng và quan trọng. Như vậy sinh viên đã nhận thức được tầm quan trọng của cố vấn học tập trong đào tạo theo tín chỉ.
(Thiều Thị Hường, 2014) Trong một nghiên cứu của tác giả Trần Thị Xuân Mai đã đề cập đến nhiệm vụ của cố vấn học tập là việc tư vấn học tập – nghiên cứu khoa học giúp sinh viên tự lập hơn hơn, năng động hơn trong nghiên cứu. Bên cạnh đó là việc tư vấn kỹ năng giao tiếp để sinh viên tiến bộ trong các hành vi của mình và các hoạt động ngoại khóa để giáo dục kỹ năng cho sinh viên. Đặc biệt đối với sinh viên năm cuối rất cần đến cố vấn học tập trong việc tư vấn là luận văn tốt nghiệp – báo cáo luận văn tốt nghiệp vì đây là nội dung khá quan trọng đối với sinh viên nên việc hướng dẫn là nhắc nhở của cố vấn học tập sẽ giúp sinh viên tích cực thực hiện và hoàn thành đúng với tiến độ. (Trần Thị Xuân Mai, 2011) 13 Còn theo tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy nghiên cứu về vai trò của cố vấn học tập đối với hoạt động học tập và rèn luyện của sinh viên, tromg nghiên cứu của tác giả đã chỉ ra vai trò của cố vấn học tập vô cùng quan trọng giúp đỡ sinh viên hoàn thành khóa học.
Khi bắt đầu mỗi khóa học việc giới thiệu khung chương trình đào tạo và cơ hội nghề nghiệp tương lai cho sinh viên là điều cần thiết giúp sinh viên có cái nhìn tổng quát về ngành mình theo học. Ngoài ra, cố vấn học tập còn giúp sinh viên hiểu rõ mục tiêu các hoạt động rèn luyện trong nhà trường, giúp sinh viên có ý thức tham gia các hoạt động hướng đến lợi ích của cộng đồng, phòng chống tệ nạn xã hội.