phần mở đầu, kết luận, luận án bao gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của dạy học tích hợp theo tiếp cận trải nghiệm trong đào tạo nghề bảo trì hệ thống thiết bị cơ khí; Chƣơng 2. Thiết kế dạy học tích hợp theo tiếp cận trải nghiệm trong đào tạo nghề bảo trì hệ thống thiết bị cơ khí; Chƣơng 3. Kiềm nghiệm và đánh giá.
4 luan an Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC TÍCH HỢP THEO TIẾP CẬN TRẢI NGHIỆM TRONG ĐÀO TẠO NGHỀ BẢO TRÌ HỆ THỐNG THIẾT BỊ CƠ KHÍ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về dạy học tích hợp theo tiếp cận trải nghiệm trong đào tạo nghề bảo trì hệ thống thiết bị cơ khí 1. Các nghiên cứu trên thế giới 1.
Dạy học tích hợp Việc tiếp cận năng lực của ngƣời học là một trong những yếu tố quan trọng nhất nhằm phát triển tiềm năng của mọi ngƣời. Mỹ là một trong những nƣớc sử dụng mô đun sớm nhất trong việc đào tạo công nhân, qua đó thuận tiện cho việc làm trong các dây chuyền ô tô của các hãng General Motor và Ford vào những năm cuối của thế kỷ 19. Để đáp ứng yêu cầu sản xuất theo kiểu Taylor (vốn thống trị thời bấy giờ), công nhân đƣợc đào tạo với thời gian 2 - 3 ngày với những trang thiết bị phù hợp với công việc. Ngƣời học đƣợc học với nội dung vừa đủ, phù hợp với công việc, và đƣợc làm quen với với mục tiêu công việc do chính công ty yêu cầu.
Ở Đức, những nghiên cứu về dạy học dựa trên tâm lí học hành động cũng đã nêu ra những cơ sở về hoạt động học tập mang lại hiệu quả và tính tích cực cho ngƣời học, hoạt động này góp phần hình thành nên ở ngƣời dạy cách thức để hƣớng ngƣời học hoạt động theo con đƣờng đạt đƣợc mục đích chiếm lĩnh tri thức khoa học. UNESCO và ILO là hai tổ chức quốc tế không chỉ tạo điều kiện mà còn khuyến khích cho việc phát triển các nhóm mô đun trong đào tạo nghề nói riêng và đào tạo nói chung. Tại Paris, các chuyên gia cho rằng: sử dụng mô đun “là thích hợp và cần thiết cho mọi đối tƣợng đào tạo, đặc biệt cho giáo dục kĩ thuật nghề nghiệp và trong việc phổ biến kĩ thuật mới” và khuyến cáo các nƣớc đang phát triển khi đầu tƣ tổng thể cho giáo dục còn hạn chế thì nên quan tâm đến việc đào tạo trên thế giới không nên “sa đà” vào việc tranh cãi, duy danh thuật ngữ mà nên triển khai áp dụng và từ đó rút kinh nghiệm. Mô-đun là đơn vị học tập đƣợc tích hợp giữa kiến thức chuyên môn, kỹ năng thực hành và thái độ nghề nghiệp một cách hoàn chỉnh nhằm giúp cho ngƣời học có năng lực thực hiện trọn vẹn một hoặc một số công việc của một nghề (Điều 3.
Luật Giáo dục nghề nghiệp (2014)). 5 luan an Hiện nay trên thế giới, ba mô hình chƣơng trình dạy học tích hợp phổ biến nhất, là: Mô hình đa môn (interdisciplinary model), mô hình dựa trên chuỗi vấn đề (problem-based model) và mô hình dựa trên các chuyên đề (themebased model), Todd, R. (1995) [1], [2], tác giả Xavier Roigier, Zhbamova, Rule, Montgomery và Nielsen [3] về việc so sánh đối chiếu giữa dạy học tích hợp dọc và dạy học theo kiểu truyền thống (dạy một môn học đơn thuần); Nguyễn Kim Hồng, Huỳnh Công Minh Hùng [4] đã nghiên cứu dạy học tích hợp trong trƣờng phổ thông Australia. Dạy học trải nghiệm Dạy học trải nghiệm là một triết lý và phƣơng pháp trong đó các nhà giáo dục tham gia cùng với ngƣời học bằng những kinh nghiệm trực tiếp và tập trung vào việc suy ngẫm để nâng cao kiến thức, phát triển kỹ năng.
Dạy học trải nghiệm cũng đƣợc gọi là dạy học thông qua hành động, dạy học bằng làm, dạy học thông qua kinh nghiệm và dạy học thông qua khám phá và khảo sát. Tất cả đƣợc xác định rõ ràng bởi những câu châm ngôn nổi tiếng: “Tôi nghe và tôi quên, tôi thấy và tôi nhớ, tôi làm và tôi hiểu” của Khổng Tử (551-476 TCN); “Nói cho tôi biết và tôi quên, dạy tôi và tôi nhớ, tôi tham gia và tôi sẽ học hỏi” của Benjamin Franklin (1750). Trong cuốn sách “Dạy cho học tập trải nghiệm” của mình, Wurdinger và Carlson (2010) đã nhận thấy rằng hầu hết các giảng viên đại học dùng phƣơng pháp thuyết trình để lên lớp. Mặc dù thuyết trình là một phƣơng pháp không thể thay thế đƣợc trong giảng dạy nhƣng ngƣời giảng viên nên tích cực lôi kéo ngƣời học tham gia vào quá trình học tập thông qua thảo luận, làm việc nhóm, tham gia thực hành và áp dụng các kiến thức ở ngoài lớp học.
Quá trình này chính là học tập trải nghiệm khi ngƣời học tìm thấy lợi ích, nhu cầu hoặc ham muốn cá nhân của họ trong nội dung học tập [5]. Những nhà tâm lý học giáo dục nổi tiếng nhƣ John Dewey (1859-1952), Carl Rogers (1902-1987) và David Kolb đã xây dựng nền tảng của lý thuyết học tập trung vào việc "học tập thông qua kinh nghiệm” hoặc" học bằng làm”. Dewey đƣa ra khái niệm về giáo dục trải nghiệm tập trung vào việc giải quyết vấn đề và tƣ duy phê phán hơn là ghi nhớ và học thuộc lòng. Rogers coi học tập trải nghiệm là quan trọng trong khi ông gọi học tập kiến thức là vô nghĩa [6].
Kolb cũng lƣu ý rằng các trải nghiệm học tập cụ thể rất quan trọng để việc học tập có ý nghĩa và ông trở nên nổi tiếng với việc phân loại phong cách học tập đƣợc sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực ngày nay để giúp xác định phong cách học tập ƣa thích của ngƣời học [7]. Theo quan điểm của UNESCO (2010), việc học của ngƣời học cần khuyến khích và phát triển tƣ duy phê phán, tự định hƣớng giải quyết vấn đề một cách chủ động qua trải nghiệm. Cách học này thƣờng tiến hành theo hƣớng: phỏng vấn tổng 6 luan an hợp ý tƣởng, thực hiện kỹ năng, từ đó suy tƣởng, phản hồi thông tin và áp dụng ý tƣởng, kỹ năng đó vào tình huống mới. Theo Ian Bullock, Mike Davis, Andrew Lockey và K.Mackway-Jones do Trƣơng Việt Dũng và Phạm Ngân Giang dịch (2012) về việc “Hƣớng dẫn dạy học cho các giảng viên y” [8] đã nói đến cách tiếp cận dạy học ngƣời lớn.
Theo tác giả ngƣời lớn thƣờng học tự nguyện, tích cực tham gia quá trình học; Họ cần kinh nghiệm thực tế, phù hợp, định hƣớng theo mục tiêu để tiếp thu. Ngoài ra, cũng có một số trƣờng Đại học có uy tín đã đi đầu trong việc ứng dụng “học tập qua kinh nghiệm” vào đào tạo sinh viên. Theo đó, sinh viên đƣợc tham gia tình huống thực tế, phải có đề tài mô phỏng kinh nghiệm học tập hàng năm (Đại học Havard); có các khóa học trải nghiệm để giải quyết các vấn đề trong học tập gắn với thực tế - làm việc với các tập đoàn trên thế giới (Đại học California); cho phép sinh viên vừa học vừa làm, chƣơng trình cung cấp cách để sinh viên có thể áp dụng nội dung học vào thực tế, có sự tƣơng tác qua các dự án, hội thảo với doanh nghiệp (Đại học North Western): cung cấp cơ hội học hỏi kinh nghiệm cho sinh viên qua các dịch vụ kinh doanh và tƣ vấn tài chính (Cao đẳng Babson – Mỹ) … Mục tiêu của các chƣơng trình này là giúp sinh viên đƣợc trải nghiệm, khám phá qua nhiều hoạt động khác nhau để phát triển hiểu biết và Kinh nghiệm trong học tập gắn với thực tế nghề nghiệp. Theo từ điển Wikipedia: Chủ nghĩa kinh nghiệm là một khuynh hƣớng lí thuyết về tri thức trong triết học, gắn liền với tên tuổi của các nhà triết học tiêu biểu bao gồm: Aristotle (384-322 TCN), Thomas Aquinas (1225-1274), Thomas Hobbes (1588-1679), John Locke (1632-1704), George Berkeley (1685-1753), David Hume (1711-1776), và John Stuart Mill (1806-1873).
Chủ nghĩa kinh nghiệm đặc biệt nhấn mạnh vai trò của trải nghiệm, tri thức khoa học có quan hệ chặt chẽ với trải nghiệm, đặc biệt khi đƣợc tạo ra qua các sắp đặt trải nghiệm có chủ ý. Chủ nghĩa kinh nghiệm cho rằng, tri thức không có một cách tự động, thay vào đó, tri thức đó phải bắt nguồn từ trải nghiệm của cá nhân. Tuy nhiên, nhiều nhà triết học không đồng tình với tƣ tƣởng của John Locke rằng, tâm thức con ngƣời là một trang giấy trắng, mà viết trên đó là các trải nghiệm trong suốt cuộc đời. Đầu thế kỷ 20, chủ nghĩa thực dụng (hay chủ nghĩa hành động) đƣợc phát triển bởi William James (1842-1910), John Dewey (1859-1952) và George Santayana (1863-1952) mà tƣ tƣởng chịu ảnh hƣởng một phần của chủ nghĩa kinh nghiệm.
Chủ nghĩa thực dụng cho rằng, thực tế đƣợc xác định bằng kinh nghiệm trong quá khứ. Con ngƣời luôn có một vốn kinh nghiệm nhất định và họ sử dụng những kinh nghiệm ấy để thực hiện trải nghiệm trên công việc và kiểm tra các giá trị thực tế của kinh nghiệm. Các giá trị của kinh nghiệm nhƣ vậy đƣợc đo theo kinh 7 luan an nghiệm và khoa học, và kết quả của các giá trị này sẽ tạo ra những ý tƣởng mới làm công cụ để tiến hành trải nghiệm trong tƣơng lai. Học tập trải nghiệm là sự hiện thực hóa các tƣ tƣởng của chủ nghĩa thực dụng trong triết học đƣợc vận dụng vào trong giáo dục; nó là một lí thuyết giáo dục hiện đại, nổi bật trong thế kỉ 20, gắn liền với tên tuổi của các nhà giáo dục hàng đầu trên thế giới nhƣ William James (1842-1910), John Dewey (1859-1952), Jean Piaget (1896-1980), Vygotsky (1896-1934), Lewin (1890-1947), George Santayana (1863-1952) khằng định, học tập là việc nhận thức và chuyển đổi kinh nghiệm [9], [10], [11], [12].
Học tập trải nghiệm đã và đang đóng vai trò trung tâm trong nền giáo dục tiến bộ, trở thành xu hƣớng, nền tảng giáo dục trong thế kỉ 21 [13]. Trong những nghiên cứu cụ thể về học tập trải nghiệm của Andresen, L. & Heesoon Bai, Ph. (2000) [21], Passarelli (2012) [22], Stavenga de Jong, J.
(2006) [24] xem xét học tập trải nghiệm là một lí thuyết về học tập và phát triển con ngƣời, nó cung cấp các mô hình về quá trình học tập từ kinh nghiệm. Các nhà giáo dục xem học tập trải nghiệm nhƣ là liều thuốc cho nền giáo dục truyền thống chỉ quan tâm đến việc đồng hóa kiến thức từ thầy sang trò để chuyển sang mô hình mà ở đó ngƣời học, học tập chủ động bằng cảm xúc, niềm tin, hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm và giá trị, học tập phải gắn liền với cuộc sống, công việc thực tế.