mở đầu cho sự ra đời của những nghiên cứu về hướng nghiệp. Tác giả đã đưa ra phương pháp đánh giá nghề nghiệp có hệ thống có ba yếu tố: (1) sự hiểu biết rõ ràng về bản thân, năng khiếu, khả năng, sở thích, tham vọng, nguồn lực, hạn chế và nguyên nhân của mình; (2) kiến thức về các yêu cầu và điều kiện thành công, lợi thế và bất lợi, bồi thường, cơ hội và triển vọng trong các ngành nghề khác nhau; (3) mối quan hệ của các nhóm sự kiện (Phillips & Pazienza, 1988) [84]. Các nghiên cứu chỉ ra rằng ĐHNN cần bắt đầu hướng tới “sự khác biệt” của HS, và sự hướng dẫn sớm từ các chuyên gia và các công cụ kiểm tra (Lazerson và Grubb,1974). Do đó, ĐHNN tại thời điểm này có nghĩa là đánh giá cá nhân để xác định hướng nghề nghiệp tốt nhất (Phillips & Pazienza, 1988).
Đồng thời, HS phổ thông cần phải chiếm lĩnh cơ hội phát triển năng lực của mình bằng cách tham gia hoạt động nghề nghiệp song song với việc học văn hóa, khoa học để đáp ứng (UNESCO, 2002) [83]. Herring (1998) khuyến khích các GV phối hợp định hướng nghề cho HS thông qua những bài giảng hàng ngày trên lớp. Các tác giả này đã khái quát mục tiêu ĐHNN cho từng cấp học và những cách thức để tiến hành những mục tiêu đó, đồng thời chỉ ra mối quan hệ giữa định hướng nghề và tham vấn nghề, các thành phần tạo nên mô hình ĐHNN hiệu quả [67]. Một số nghiên cứu đã đưa ra quan điểm về định hướng nghề nghiệp.
Định hướng nghề nghiệp được hiểu là sự cung cấp thông tin về nhận thức nghề nghiệp và lập kế hoạch liên quan đến tương lai nghề nghiệp và học tập của một cá nhân, góp phần hướng dẫn và tư vấn lựa chọn nghề nghiệp, hỗ trợ tài chính, và lựa chọn sau trung học (Carl D. Perkins, 2008, Kell & Brow, 1998) [60], [68]. Nghiên cứu này cũng khẳng định ĐHNN là một thành phần luan an 7 của chương trình hướng dẫn, tập trung vào sự phát triển nghề nghiệp của HS; điều này có thể bao gồm tư vấn nghề nghiệp hoặc các dịch vụ liên quan đến nghề nghiệp khác. Một nghiên cứu khác cho rằng ĐHNN là sự hiểu biết về sự khác nhau giữa công việc, ngành nghề, và nghề nghiệp, nhận thức được cơ hội nghề nghiệp ở khu vực địa phương, trong nước và toàn cầu dựa trên các điều kiện kinh tế, tác động văn hóa và tác động lên sự lựa chọn nghề nghiệp (Leann Morgan (2008) [74].
Watts và Fretwell (2004), Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế OECD (2004) đã định nghĩa ĐHNN là sự cung cấp thông tin về nhận thức nghề nghiệp và lập kế hoạch liên quan đến tương lai nghề nghiệp và học tập của một cá nhân, góp phần hướng dẫn và tư vấn lựa chọn nghề nghiệp, hỗ trợ tài chính, và lựa chọn sau trung học. Các tác giả cũng khẳng định ĐHNN là một thành phần của chương trình hướng dẫn, tập trung vào sự phát triển nghề nghiệp của HS; điều này có thể bao gồm tư vấn nghề nghiệp hoặc các dịch vụ liên quan đến nghề nghiệp khác [84]. Như vậy, ĐHNN đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới, các công trình nghiên cứu đều khẳng định vai trò của hướng nghiệp đối với thanh niên, HS, giúp các em chọn được nghề phù hợp với năng lực, sở thích, hứng thú, khuyến khích kết hợp hướng nghiệp trong nhà trường với lao động sản xuất, tham quan, thực tập ở các nhà máy, xí nghiệp nhằm nâng cao nhận thức của HS về nghề. Về mục tiêu định hướng nghề nghiệp trong chương trình GDPT Chương trình giáo dục của nhiều quốc gia trên thế giới đã đưa mục tiêu ĐHNN là mục tiêu quan trọng của giáo dục.
Hệ thống giáo dục của Đức tạo ra sự phân luồng HS dựa theo khả năng cá nhân. HS vào cấp một (Grundschule) khi lên 6 tuổi. Học xong lớp 4 HS được chia theo năng lực và sở thích để vào học trong các loại hình trường khác nhau. Trong hầu hết các tiểu bang, HS vào học trong các trường THCS với những loại hình sau học bán thời gian (part-time) trong các trường nghề kết hợp với việc rèn nghề tới khi 18 tuổi.
Ở lớp 11 và lớp 12, chương trình đào tạo được chia ra làm hai mức: mức căn bản và mức nâng cao. Điều này cho phép sự định hướng chuyên ngành sớm mà không mất đi những lợi ích của GDPT (general education). Liên bang Nga, Nhật Bản, New Zealand rất quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ giữa học vấn văn hoá phổ thông với kiến thức và kĩ năng lao động - nghề nghiệp ở tất cả các bậc học. Ở Liên bang Nga, ĐHNN được thực luan an 8 hiện nhằm mục tiêu đảm bảo quyền tự chọn nghề của HS giúp các em tự thể hiện nhân cách trong điều kiện quan hệ thị trường; Tôn trọng hứng thú nghề nghiệp của con người cũng chỉ rõ nhu cầu của thị trường lao động; Không ngừng nâng cao trình độ thạo nghề của cá nhân như là điều kiện quan trọng nhất được thoả nguyện yêu cầu phát triển của con người trong lao động.
Nhật Bản sớm quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ giữa học vấn văn hoá phổ thông với kiến thức và kĩ năng lao động - nghề nghiệp ở tất cả các bậc học. Trung Quốc khuyến khích giáo dục suốt đời một cách tích cực. Trong chương trình giảng dạy thường có các môn học tự chọn với mục tiêu trang bị cho HS những kiến thức và kĩ năng chuyên môn cần thiết để HS có khả năng tham gia lao động nghề nghiệp ở các lĩnh vực kinh tế - xã hội khác nhau hoặc tiếp tục học lên trình độ nghề nghiệp cao hơn ở bậc đại học. Chương trình giáo dục của New Zealand đặc biệt quan tâm đến vấn đề ĐHNN cho HS và khẳng định cần đưa ĐHNN trở thành một phần trong hoạt động học tập hàng ngày trên lớp.
Khi những khái niệm và chủ đề mang tính hướng nghiệp được nhấn mạnh trong bài giảng trên lớp, HS sẽ có cơ hội được phát triển năng lực nghề nghiệp trong bối cảnh có ý nghĩa. Học tập theo các chủ đề môn học có liên kết với cuộc sống bên ngoài trường học sẽ mang lại nhiều ý nghĩa cho HS [82], [83]. Ở Việt Nam Ở Việt Nam từ những năm 80 của thế kỷ trước, giáo dục ĐHNN cho HS phổ thông cũng đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, có thể kể đến các tác giả như: Phạm Tất Dong, Phạm Minh Hạc, Nguyễn Văn Hộ, Đặng Danh Ánh, Nguyễn Như Ất, Phạm Huy Thụ, Đoàn Chi, Trần Khánh Đức, Hà Thế Truyền, Nguyễn Viết Sự, Nguyễn Đức Trí… Tác giả Phạm Minh Hạc (2001) đã phân tích tình hình giáo dục - đào tạo nước ta và phương hướng đổi mới giáo dục - đào tạo, đã xác định cần xây dựng một nền giáo dục kĩ thuật, phục vụ phát triển công nghệ, chú ý ưu tiên đến việc giáo dục nghề nghiệp” [27], [28]. Tác giả Phạm Tất Dong đã nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động hướng nghiệp, hứng thú nghề nghiệp, những vấn đề về nội dung, phương pháp hướng nghiệp cho HS, thanh niên… [20], [21], [22], [23].
Trong đó, tác giả đã đề xuất phải chú trọng hình thành năng lực nghề nghiệp cho thế hệ trẻ để tự tìm ra việc làm phù hợp với năng lực, sở thích của bản thân. Tác giả Nguyễn Văn Hộ (1998) với công trình “Thiết lập và phát triển hệ thống hướng nghiệp cho HS Việt Nam” đã xây dựng luận chứng phát triển hệ luan an 9 thống hướng nghiệp trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và đề xuất những hình thức phối hợp giữa nhà trường, các cơ sở đào tạo nghề, cơ sở sản xuất trong hướng nghiệp - dạy nghề cho HS phổ thông [36], [37]. Tác giả Nguyễn Văn Hộ và Nguyễn Thị Thanh Huyền (2006) đã nghiên cứu công trình: “Hoạt động giáo dục hướng nghiệp và giảng dạy kĩ thuật trong trường THPT”. Tác giả đã phân tích các cơ sở lý luận của giáo dục hướng nghiệp, việc tổ chức các hoạt động giáo dục hướng nghiệp và giảng dạy kĩ thuật trong nhà trường THPT và xây dựng hệ thống nguyên tắc, phương pháp và những hình thức giáo dục kĩ thuật trong trường THPT [37].
Theo Sổ tay Tâm lý học, hướng nghiệp là tập hợp những biện pháp y học, giáo dục học, Tâm lý học, nhằm hợp lý hóa quá trình tổ chức lao động của thế hệ trẻ. Trong đó, các yếu tố cần quan tâm là năng lực, thiên hướng, nguyện vọng của tuổi trẻ, cũng như nhu cầu của các cơ quan, các ngành (Viện Khoa học Giáo dục, 1991) [48]. Một hướng nghiên cứu khác do các tác giả Đặng Danh Ánh, Nguyễn Viết Sự cùng cộng sự thực hiện về: Động cơ chọn nghề; Hứng thú chọn nghề; Khả năng thích ứng nghề của HS học nghề; Tuổi trẻ và nghề nghiệp (Đặng Danh Ánh, 2002) [2,], [3]. Tác giả Nguyễn Đình Xuân trong nghiên cứu về “ĐHNN của HS và sinh viên các trường ở Hà Nội” đã quan niệm ĐHNN là một dạng đặc biệt của định hướng cá nhân.
Trong đó, định hướng cá nhân là thái độ lựa chọn một cách đặc thù đối với hiện thực của con người, có ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống và hành động của người đó. Trong các loại hình hoạt động của con người thì hoạt động nghề nghiệp đứng ở vị trí quan trọng nhất. Hoạt động nghề nghiệp tạo nên sự tích cực của chủ thể, tạo điều kiện thuận lợi nhất để họ thỏa mãn các nhu cầu phát triển tài năng, trí tuệ. Tác giả cho rằng, ĐHNN là một quá trình tìm hiểu, đối chiếu, so sánh những yêu cầu về đặc điểm tư chất và yêu cầu của hoạt động lao động xã hội với những điều kiện cụ thể của bản thân trên cơ sở hình dung ra trước hoạt động lao động của cá nhân trong hiện tại và tương lai.
Tác giả đã đề cập đến năng lực trong việc chọn nghề, trong đó chú ý đến vấn đề hứng thú nghề nghiệp, đó chính là động lực có sức mạnh kích thích sự hăng say, bền bỉ, kích thích sự tìm tòi sáng tạo của con người với nghề nghiệp họ theo đuổi (Nguyễn Đình Xuân, 1996). Trong nghiên cứu này, tác giả chưa đề cập cụ thể đến cấu trúc của năng lực ĐHNN cho HS THPT [50].