phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, luận văn dự kiến trình bày theo ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác chủ nhiệm lớp của giáo viên ở trƣờng phổ thông dân tộc nội trú. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý công tác chủ nhiệm lớp phổ thông DTNT của giáo viên ở trƣờng Hữu Nghị 80. Chƣơng 3: Một số bi ện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp phổ thông DTNT của giáo viên ở trƣờng Hữu Nghị 80 trong bối cảnh hiện nay. - Ngoài ra còn có: Tài liệu tham khảo và các phụ lục.
5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP CỦA GIÁO VIÊN Ở TRƢỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề Ban bí thƣ Trung ƣơng Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IX đã ra Chỉ thị 40/CT-TW ngày 15-6-2004 nêu rõ: “Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đƣợc chuẩn hóa, đảm bảo chất lƣợng, đủ về số lƣợng, đồng bộ về cơ cấu. đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc” [1]. Trƣớc hết phải xây dựng và thực hiện tốt chiến lƣợc phát triển toàn diện con ngƣời là điều kiện quyết định để phát triển kinh tế xã hội.
Nguồn lực con ngƣời là sự kết hợp hài hoà giữa trí lực, thể lực, nhân cách và kinh nghiệm sống. Có con ngƣời phát triển đầy đủ và toàn diện thì mới có nhân lực chất lƣợng cao. Đất nƣớc ta hiện nay đang trong giai đoạn phát triển và hội nhập, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng đƣợc cải thiện và nâng cao, nhân cách con ngƣời đã có những biến đổi tích cực, tuy nhiên cũng xuất hiện một số mặt tiêu cực, ảnh hƣởng đến công tác giáo dục trong nhà trƣờng. Tình trạng suy thoái về đạo đức của một bộ phận học sinh do ảnh hƣởng của lối sống thực dụng, lƣời học, không có hoài bão ƣớc mơ, các tệ nạn xã hội len lỏi vào nhà trƣờng đó là những vấn đề đáng lo ngại trong những năm gần đây.
Vì vậy nhà trƣờng, gia đình và xã hội cần có sự phối hợp chặt chẽ trong việc giáo dục học sinh. Trong một nhà trƣờng, vai trò quan trọng là đội ngũ giáo viên và đặc biệt là GVCN. Công tác GVCN lớp đã có nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu, tìm hiểu, phân tích, có thể kể đến các công trình tiêu biểu nhƣ: - Cải tiến việc quản lý đội ngũ GVCN lớp của Hiệu trƣởng trƣờng phổ thông của Lƣu Xuân Mới, trƣờng Cán bộ QLGD, Hà Nội 1998. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Giáo dục học (chƣơng: Ngƣời GVCN lớp) - Phạm Viết Vƣợng.
Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2004. - Phƣơng pháp công tác của ngƣời GVCN ở trƣờng THPT - Hà Nhật Thăng (chủ biên). Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2004. - Công tác GVCN lớp ở trƣờng Phổ thông - Hà Nhật Thăng (chủ biên).
Nxb Giáo dục, Hà nội 2006. - Một số vấn đề lí luận và thực tiễn về quản lí trƣờng phổ thông dân tộc nội trú - Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Thị Thu Huyền (đồng chủ biên) dự án phát triển giáo viên, Nxb Văn Hóa - Thông tin 2013. Hầu hết các tài liệu, công trình nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức khái quát chung công tác chủ nhiệm lớp, chƣa đi sâu và đề xuất các biện pháp quản lý cụ thể thực hiện công tác chủ nhiệm lớp ở trƣờng phổ thông DTNT. Vấn đề quản lý công tác chủ nhiệm lớp của giáo viên ở trƣờng THPT nói chung, trƣờng phổ thông DTNT nói riêng đã đƣợc quan tâm, song nó mới chỉ ở dạng những kinh nghiệm thể hiện trên các báo cáo sơ kết, tổng kết năm học của các nhà trƣờng.
Cho đến nay, theo những tài liệu mà chúng tôi có đƣợc vẫn còn thiếu những công trình đề cập đến các biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trƣờng phổ thông DTNT một cách đầy đủ và hệ thống. Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi muốn đi sâu hơn để xác định cơ sở lý luận, khảo sát thực tiễn và trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp của giáo viên, góp phần nâng cao chất lƣợng giáo dục toàn diện ở trƣờng Hữu Nghị 80 nói riêng và các trƣờng phổ thông DTNT nói chung, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. Những khái niệm và quan điểm cơ bản 1. Khái niệm quản lý 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, con ngƣời muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của một tổ chức, bất kể tổ chức đó có mục đích gì, cơ cấu và qui mô nhƣ thế nào thì đều cần đến hoạt động quản lý và có ngƣời quản lý để tổ chức hoạt động và đạt đƣợc mục đích của mình.
Vậy quản lý là gì? Theo từ điển tiếng Việt, quản lý là “Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, một cơ quan: quản lý lao động, quản lý cán bộ, quản lý công việc’’ hoặc quản lý là “Trông coi, giữ gìn, theo dõi việc gì: quản lý hồ sơ lý lịch, quản lý vật tƣ” [35, tr.1363] Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Hoạt động quản lý là tác động có định hƣớng, có chủ đích của chủ thể quản lý (ngƣời quản lý) đến khách thể quản lý (ngƣời bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt đƣợc mục đích của tổ chức” [10]. Quản lý là một loại hình lao động của con ngƣời trong cộng đồng nhằm thực hiện các mục tiêu mà tổ chức hoặc xã hội đặt ra. Loài ngƣời đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển với nhiều hình thái xã hội khác nhau nên cũng trải qua nhiều hình thức quản lý khác nhau. Các triết gia, các nhà chính trị từ thời cổ đại đến nay đều rất coi trọng vai trò của quản lý trong sự ổn định và phát triển của xã hội.
Nó là một phạm trù tồn tại khách quan và là một tất yếu lịch sử. Các nhà lý luận quản lý trên thế giới nhƣ: Theo Frederich Winslow Taylor (1856-1915) ngƣời Mỹ: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phƣơng pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất” [22]. Hoặc theo Henri Fayol (1841-1925) ngƣời Pháp cho rằng: “Quản lý là đƣa xí nghiệp tới đích, cố gắng sử dụng tốt nhất các nguồn lực của nó” [9]. Nói đến hoạt động quản lý ngƣời ta thƣờng nhắc đến ý tƣởng 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sâu sắc của Các-Mác: “Một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển mình còn dàn nhạc thì cần nhạc trƣởng” [8].
Quản lý có thể xét theo ngữ nghĩa: Quản lý = Quản + Lý. “Quản” có nghĩa là sự trông coi, giữ gìn duy trì hệ ở trạng thái “ổn định”. “Lý” nghĩa là sự sửa sang, sắp xếp đổi mới hệ theo hƣớng “phát triển”. Nếu ngƣời đứng đầu tổ chức chỉ lo việc “Quản”, tức là chỉ lo việc trông coi, giữ gìn thì tổ chức dễ trì trệ.
Tuy nhiên, nếu chỉ quan tâm đến việc “Lý” tức là chỉ lo việc sắp xếp tổ chức, đổi mới mà không đặt trên nền tảng của sự ổn định thì sự phát triển của tổ chức không bền vững. Trong “Quản” phải có “Lý”, trong “Lý” phải có “Quản” để trạng thái của hệ ở thế cân bằng động [6]. Trong quá trình tồn tại và phát triển của quản lý, đặc biệt trong quá trình xây dựng lý luận về quản lý, khái niệm quản lý đƣợc nhiều nhà lý luận đƣa ra, nó thƣờng phụ thuộc vào lĩnh vực hoạt động, nghiên cứu của mỗi ngƣời. Chẳng hạn: Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt cho rằng: “Quản lý là một quá trình định hƣớng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt đƣợc những mục tiêu nhất định” [29].
Theo Mai Hữu Khuê: “Hoạt động quản lý là một dạng hoạt động đặc biệt của ngƣời lãnh đạo mang tính tổng hợp các loại lao động trí óc, liên kết bộ máy quản lý, hình thành một chỉnh thể thống nhất điều hoà phối hợp các khâu và các cấp quản lý, làm sao cho hoạt động nhịp nhàng, đƣa đến hiệu quả” [24]. Các định nghĩa khác: - Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển, hƣớng dẫn các quá trình xã hội, hành vi hoạt động của con ngƣời nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp với qui luật khách quan. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Hoạt động quản lý là sự tác động qua lại một cách tích cực giữa chủ thể và đối tƣợng quản lý qua con đƣờng tổ chức; là sự tác động điều khiển, điều chỉnh tâm lý và hành động của các đối tƣợng quản lý, cùng hƣớng vào việc hoàn thành những mục tiêu nhất định của tập thể và xã hội. Môi trƣờng quản lý Mục tiêu quản lý Chủ thể quản lý Khách thể quản lý Sơ đồ 1.1 Cấu trúc của một hệ thống quản lý Hiện nay quản lý thƣờng đƣợc định nghĩa rõ hơn: Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng của các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.
Các chức năng quản lý a/ Chức năng kế hoạch hoá Peter Drucker đã đề xuất tiêu chuẩn về tính hiệu nghiệm (tức là khả năng làm những việc “đúng”) và tính hiệu quả (tức là khả năng làm đúng việc). Ông cho rằng, tính hiệu nghiệm là quan trọng hơn, bởi vẫn có thể đạt đƣợc hiệu quả khi chọn sai mục tiêu. Hai tiêu chuẩn này song hành cùng với hai khía cạnh của kế hoạch: xác định những mục tiêu “đúng” và lựa chọn những biện pháp “đúng” để đạt các mục tiêu này. Cả hai khía cạnh đó đều có ý nghĩa sống còn đối với quá trình quản lý.
Để hiểu rõ bản chất của khái niệm chức năng kế hoạch hoá, chúng ta có thể định nghĩa nhƣ sau: "chức năng kế hoạch hoá là quá trình xác định mục tiêu và quyết định những biện pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu đó" [26]. Nhƣ vậy, kế hoạch hoá là đƣa toàn bộ những hoạt động cụ thể vào 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com công tác kế hoạch với mục đích, biện pháp, bƣớc đi rõ ràng và ấn định tƣờng minh các điều kiện cung ứng cho việc thực hiện mục tiêu.