CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE PHÁT TRIEN HẠ TANG GIAO THONG ĐÔ THỊ VÀ SU CAP THIẾT TRONG VIỆC TANG CƯỜNG CÔNG TÁC QUAN LÝ CHI NSNN CHO DAU TƯ HA TANG GIAO THONG ĐÔ THỊ. Co sở ha tầng giao thông đô thị va tầm quan trọng đối với qua trình phát triển KT-XH. Tổng quan về cơ sở hạ tầng giao thông đô thị. Nhăm có được cách nhìn toàn diện, đúng dan, tông quan vê co sở hạ tang giao thông đô thi dau tiên can tìm hiéu rõ vê kêt câu ha tang nói chung.
“Kết cau hạ tang là tong hợp các công trình vật chất kỹ thuật có chức năng phục vụ trực tiếp cho sản xuát và đời sông cua nhân dân, được bo trí trên một phạm vì lãnh thô nhất định ”. Theo một cách hiéu khác, nó còn là tổng thé các cơ sở kỹ thuật, vật chất, kiến trúc ở đô thị có vai trò bệ đỡ cho các hoạt động KT-XH trong đô thị được diễn ra thường lệ (giáo trình “Quan ly đô thị” - GS.TS Nguyên Ngoc Châu Chủ biên- NXB Xây Dung). Còn trong phạm trù triết học, được hiểu là những quan hệ sản xuất hợp thành cơ câu kinh tê của một xã hội nhât định, cụ thê bao gôm: = Quan hệ sản xuât thong tri. = Quan hệ sản xuât tan dư của xã hội cũ.
= Quan hệ sản xuât mâm mông của xã hội tương lai. Trong đó, đóng vai trò chủ chốt là quan hệ sản xuất thống trị lúc nào cũng chi phối các quan hệ sản xuất khác. Quan hệ này còn quy định phương hướng phát triển chung của đời sông KT-XH. Nói chung, kết cầu hạ tầng đô thị là một bộ phận có đặc trưng riêng trong nên kinh tế của cơ sở vật chất kỹ thuật, có nhiệm vụ, chức năng chủ yếu là đáp ứng những yêu cầu cần thiết chung được diễn ra bình thường, liên tục cho toàn thé hoạt động sản xuất và tái sản xuất mở rộng đô thị.
Thế nên, có rất nhiều và đa dạng các loại hình cơ sở kết cấu, công trình vật chất kỹ thuật cụ thê như: mạng lưới giao thông vận tải đường bộ, sân bay, cầu céng,. Mang lưới đường cáp quang, các trạm vệ tinh. hay công trình của ngành bưu chính - viễn thông, của các ngành điện đường dây, nhà máy phát điện. Đa số đều có tầm vị thế hết sức trọng yếu, phục vụ cách trực tiếp và gián tiếp, những công trình kỹ thuật này ảnh hưởng đên các sinh hoạt như: “_ Các hoạt động sản xuất: Quá trình huy động khai thác nguồn lao động sống và lao động vật hoá để sản xuất của cải vật chất và tạo ra giá trị thặng dư mới.
= Các hoạt động tiêu dùng: Quá trình tiêu dùng của cải vật chất và giá trị sử dụng đã được sản xuất, để thoả mãn các nhu cầu vật chất và văn hoá ngày một tăng của người dân do sự đáp ứng yêu cầu tái sản xuất ra sức lao động. 12 Do đó, tầm quan trong của kết cau hạ tang là điều không thé phủ nhận, là bàn đạp của sự tăng trưởng KT-XH quốc gia. Bao gồm những công trình liên ngành bảo đảm thích ứng cho hoạt động đồng bộ của toàn hệ thống và những công trình đặc thù cho hoạt động của các bộ phận riêng biệt trong mỗi lĩnh vực, ngành nghề và trong khu vực. + Phân loại cơ sở hạ tầng đô thi: Kết cấu hạ tầng dựa trên các tiêu chí khác nhau được phân chia nhiều loại hình với những đặc trưng riêng biệt.
Người ta phân tách thành kết câu hạ tang xã hội và ket câu hạ tâng kỹ thuật (còn gọi là kêt câu hạ tâng kinh tê). e Kết cau hạ tang xã hội: Bao gồm các công trình cơ bản đáp ứng cho nhu cầu của các điểm dân Cư, cu thể có thé kế đến như nha văn hoá, cơ sở y tẾ, các trạm xá, trường học và các sinh hoạt dịch vụ đô thị khác. Có đặc điểm thường di liền với sinh hoạt của đa số người dân, nâng cao đời sống và góp phan xã hội 6n định. e Kết cấu hạ tang kỹ thuật: Hệ thống công trình thích ứng cho công tác sản xuất và sinh hoạt của người dân như: bưu chính viễn thông, giao thông vận tải, hệ thống truyền tải điện, mạng lưới cấp thoát nước.
Mặt khác, cơ sở hạ tầng còn được phân thành hai loại hình thái sau: e Cơ sở hạ tầng mang hình thái vật chất là tổng hợp các cơ sở hạ tang kỹ thuật như mạng lưới đường giao thông, công trình y tế, trường học, cơ sở quốc phòng an ninh, hệ thống điện, kênh rạch. e Cơ sở hạ tầng mang hình thái phi vật chất là tổng hợp các hệ thống thủ tục hành chính, thiết chế xã hội, an ninh trật tự xã hội, cơ chế hoạt động,. đều có yếu tố tác động tới môi trường chung đáp ứng cho nhu cầu của các hoạt động sinh hoạt thường ngày. Cơ sở kỹ thuật giao thông đô thi nằm trong hệ thông cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, do vậy xét về bản chất nó còn mang những nét đặc trưng của cơ sở hạ tầng, bên cạnh đó nò còn có những đặc điểm riêng biệt khác.
Là khu vực có quy mô dân số lớn và lượng phân bồ dân cư nam ở mức cao lượng người sinh sống, thêm vào đó đa số chú trọng đến hoạt động kinh tế phi nông nghiệp, đô thị luôn được biết đến là nơi tập trung phát triển cao về mọi mặt của nền kinh cả nước hoặc vùng miền bao gồm các thị xã, thị tran, thành phố (thành phố trực thuộc tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương). Co sở hạ tang giao thông đô thị là bộ mặt của đô thị, thê hiện trình độ phát trién kinh tế, xã hội của đô thi. Vì giữa mức độ phát triển KT-XH và chất lượng, quy mô, hình thức của CSHTGT đô thị có mối tương quan chặt chẽ, qua lại với nhau: Kinh tế có phát triển mới huy động khai thác được nguồn vốn đầu tư vào CSHTGT đô thị, mới đạt được những công trình chất lượng cao và đảm bảo kỹ thuật. Theo chiều hướng ngược lại khi cơ sở hạ tang giao thông đô thị được quy hoạch phát triển mạnh mẽ sẽ là ban đạp, là nền tảng quan trọng đề thực hiện quá trình công nghiệp hoá hiện nay, nhằm đáp 13 ứng nhu cầu giao thông đi lại ngày càng cao của người dân sinh sống trong khu vực đô thị và liên kết giữa các đô thị với các vùng miền khác từ đó thúc đây kinh tế tăng trưởng cách vượt bậc, đạt thành tựu lớn lao.
> Đặc điểm riêng biệt của cơ sở giao thông đô thị. Ngoài những nét đặc trưng chung cơ bản giống như cơ sở hạ tầng đã đề cập ở trên, CSHTGT đô thị mang những đặc điêm riêng biệt như sau: Thứ nhất, là hàng hoá đô thị do Nhà nước đầu tư, vốn huy động đầu tư cho CSHTGT đô thị vô cùng lớn, khả năng hồi vốn trực tiếp gần như không có, nếu có khả thi nhưng tiễn độ lại rất chậm. Nguồn vốn huy động từ ngân sách nhà nước chủ yếu chi cho vén dau tu cho CSHTGT dé thi. Thứ hai, các công trình cơ sở ha tang giao thông đô thi đòi hỏi thời gian thực hiện thiết kế và xây dựng lâu dài, giá trị công trình cao, vốn đầu tư lớn, dan trải trong một thời gian trường kỳ, khả năng thất thoát vốn, tồn đọng vốn trong quá trình sử dung là rất cao.
Thế nên công tác quản lý chỉ phải được quan tâm chú trọng, dé tránh lãng phí, sai lệch và thất thoát, gây nguồn vốn NSNN bị tồn đọng. Thứ ba, sản phẩm của CSHTGT đô thị có lượng thời gian sử dụng lâu dài, đòi hỏi công tác duy trì, bảo dưỡng luôn được thực hiện thường xuyên, kịp thời và liên tục nhằm bảo đảm cho các công trình hạ tầng kỹ thuật không chỉ phục vụ nhu cầu trước mắt mà còn đáp ứng sự hữu dụng trong tương lai lâu dài. Vai trò của hạ tầng giao thông đối với quá trình phát triển đô thị. Có nhận định rằng: "Cơ sở hạ tầng giao thông đô thị là đòn bay cho su phat trién của nền kinh tế đô thị, muốn phát huy hiệu quả cao nhất phải cho nó một điểm tựa chắc chắn.
Điểm tựa đó là cơ chế, chính sách phù hợp, linh hoạt từ khâu kêu gọi vốn cho đến đầu tư, xây dựng. Hệ thông ha tang có vai trò không thé thay thé trong sự tăng trưởng của bất cứ thành phố nào. Có đường sá mới có giao thương, buôn bán. Ngay cả hoạt động của các lĩnh vực y tế, giáo dục, du lịch.
cũng đều phụ thuộc vào đường sá. Có thể nói giao thông là tiền dé, là bệ đỡ phát triển cho mọi đô thị. CSHTGT đô thị có thể được so sánh như là mạch máu - một bộ phận quan trọng nhất trong cơ thé con người. Trong nền kinh tế, hệ thống giao thông được xem là mang lưới các mạch máu trong cơ thể.
Thế nên, cũng được xem là mạch máu của nên kinh té, là đường dẫn cho sự giao thoa, phát triển hài hòa mọi lĩnh vực. Xét về tầm vóc của CSHTGT đô thị đối với quá trình phát triển KT-XH của một đô thị, ta có thé xét đến những yếu tố được làm rõ như sau: > Hạ tầng giao thông là nền tảng vật chất trong quá trình đô thị phát triển. Tổng hợp gồm: Hệ thống đường bộ, mạng lưới chiếu sáng, mạng lưới cấp thoát nước. Đó là những hạ tâng quan trọng nhât tạo nên cơ thê vật chât của đô thị.
Trước hết là bộ mặt của một đô thị, CSHTGT đô thị thể hiện mức độ quy mô 14 phát triển KT-XH của một đô thị và rộng hơn là của một nước, một quốc gia. Đô thị có phát triển mạnh về kinh tế thì Nhà nước mới có khả năng đầu tư CSHTGT hiện đại cho các đô thị, những nơi được coi là trung tâm tăng trưởng về mọi mặt của một quốc gia. Nó cũng là những yêu tố dé tách biệt giữa đô thị và nông thôn, bởi không chỉ thực hiện những nhiệm vụ thuần túy, như ở các vùng miền khác mà đô thị phải thực hiện ở những vai tro tong hop về kinh tế, chính trị, văn hóa. Do đặc thù này đòi hỏi điều kiện tiền đề đô thị phải có hạ tầng giao thông cơ bản đủ mạnh thì mới bảo đảm được yêu cầu hợp tác kinh tế giữa đô thị và các khu vực xung quanh, nhằm thúc đây kinh tế đô thị tăng trưởng đạt kết quả tốt trong tương lai.
Thêm vào đó, còn là yếu tô trọng yếu trong hoạt động thu hút nội và ngoại quốc lượng vốn huy động triển khai.