Phần mở đầu Chương |. Cơ sở lí luận về quản lí việc đảm bảo chế độ chính sách hỗ trợ sinh viên Chương 2. Thực trạng quản lí việc đảm bảo chế độ chính sách hỗ trợ sinh viên tại Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh Chương 3.
Biện pháp quản lí việc đảm bảo chế độ chính sách hỗ trợ sinh viên tại Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh Kết luận, Kiến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục CHUONG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VE QUAN LÍ VIỆC DAM BẢO CHE ĐỘ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ SINH VIÊN 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề quản lí việc đảm bảo chế độ chính sách hỗ trợ sinh viên Tại Phần Lan, hệ thong giáo dục Phan Lan đã trở thành một ví dụ hấp dẫn và được quốc tế kiểm tra về một hệ thông hoạt động hiệu qua, kết hợp thành công chất lượng với sự công bằng trên diện rộng và sự gắn kết xã hội thông qua nguôn tài chính công hợp lí, là sự kết hợp giữa ý chí chính trị, nỗ lực có mục đích nhằm thúc đây sự công bằng trong hệ thống giáo dục, giáo dục giáo viên chất lượng cao, trách nhiệm nghẻ nghiệp và đạo đức của giáo viên cũng như niềm tin của xã hội đối với các chủ thê giáo dục.
(Pasi Sahlberg, 2017) Tại Trung Quốc, cũng như nhiều nước khác đã thực hiện định hướng thị trường trong giáo dục đại học. Cùng lúc với tiến hành thu học phí và lệ phí trong giáo dục đại học, Trung Quốc đã thực hiện nhiều cách thức khác nhau đề giúp tăng tiếp cận giáo dục đại học. Các hình thức đó là cấp học bông, miễn giảm học phí, tô chức cho sinh viên vừa học tập vừa làm việc. đưa ra các chương trình cho sinh viên vay tiền để học.
Trong các chương trình cho SV vay tiền là một trong những cách thức cơ bản dé tăng tiếp cận giáp dục đại hoc, đặc biệt là đảm bảo cho công bằng trong cơ hội giáo dục đại học cho sinh viên nghèo. (Trịnh Hồng Hà, Sự phát triển của chính sách hỗ trợ tài chính cho sinh viên các trường đại học ở Trung Quốc, Tạp chí giáo dục số 192, kì 2 — 6/2008, tr63-65) Tại Việt Nam, chính sách xã hội được Đảng đề cập tại Đại hội VI (tháng 12- 1986) với chủ trương: chính sách xã hội nham phát huy mọi khả năng của con người và lay việc phục vụ con người làm mục đích cao nhất. Đây là quan điểm khởi đầu của Đảng về chính sách xã hội trong thời kỳ đôi mới đất nước. Trong các kỳ đại hội tiếp theo, Đảng từng bước bé sung và hoàn thiện quan điêm, đường lỗi về chính sách xã hội.
Bước phát triển nhận thức của Đảng về chính sách xã hội thê hiện tại Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01-6-2012 “Vé một số van dé về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020” của Hội nghị Trung ương 5 khóa XI. Nghị quyết chủ trương tập trung vào hai nhóm chính sách cơ bản, quan trọng trong hệ thông các chính sách xã hội là chính sách ưu đãi người có công và chính sách an sinh xã hội. Nghị quyết dé ra mục tiêu: “Cai thiện đời sống vat chat, tinh than cho người có công, phan dau đến năm 2015, co bản bao dam gia đình người có công có mức sống bằng hoặc cao hon mức sông trung bình của dan cu trên địa bàn; đến năm 2020, cơ bản bảo đảm an sinh xã hội toàn dân, bảo đảm mức tối thiêu về thu nhập, giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch va thông tin, truyền thông, góp phan từng bước nâng cao thu nhập, bảo đảm cuộc sông an toàn, bình đăng và hạnh phúc của nhân dân” /Wghị quyết số 15-NQ/TW “Vẻ một số van dé về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020”, Hội nghị lan thứ 5 Ban Chap hành Trung wong Đáng khoá XI, ngày 01/6/2012). Trong thời kỳ đôi mới, day mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, các chủ trương của Đảng vẻ chính sách xã hội từng bước được hoàn thiện, ngày càng mở rộng.
bao trùm và da dạng. Trong đó, quan điềm nhất quán là: “thực hiện tiền bộ và công bang xã hội; nâng cao chất lượng cuộc sống vả hạnh phúc của nhân dân” (Van kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lan thứ XIII, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội). Nghiên cứu lí luận va tông kết thực tiễn về “Chinh sách hỗ trợ sinh viên — Những van đề đặt ra hiện nay”, tác giả Phùng Văn Hiền (2014) nhận định rằng “Quy định miễn, giảm học phí theo vùng, theo nhóm dân tộc là chưa thực sự phù hợp với thực tế. Vì ở vùng sâu, vùng xa, vùng đông bào dân tộc thiêu số, nhiều gia đình 10 đã có đời sống khá giá nhưng con em họ là sinh viên vẫn được miễn, giảm học phi.
Vì vậy, nên có quy định cụ thé dù ở vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiêu số nhưng phải thuộc diện hộ nghéo, cận nghéo mới được hưởng lợi từ dự án”. Bên cạnh đó, theo quy định hiện hành, thủ tục được miễn, giảm học phí và nhận được tiền trợ cấp là rat phức tạp. Do đó, cần đơn giản hóa thủ tục, tạo thuận lợi cho đối tượng được thụ hưởng chính sách. Tác giả Đàm Đức Tiền (2016) với dé tài “Hoan thiện cơ chế quản lý chính sách đối với sinh viên các trường đại học công lập” cho răng “Việc hoàn thiện cơ chế quản lý cấp bù học phí, học bông khuyến khích học tập, miễn giảm học phí và tín dụng cho sinh viên đặt ra như một nhu cầu thiết yếu nhằm hé trợ sinh viên tốt nhất, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý đầu tư cho giáo dục hiệu quả hon”.
Chính sách miễn, giảm học phí đã làm giảm bớt phần nào gánh nặng cho sinh viên về vấn đề học phí va chi phí sinh hoạt, vì vậy, thực thi những chính sách day đủ, hiệu quả can sự quyết tâm và nhất quán đề thê hiện tính nhân văn, ý nghĩa xã hội này. Tác giả Dao Thị Thu Giang, Phạm Thị Thu Hương (2016) với nghiên cứu “Mot số đề xuất vẻ chính sách hỗ trợ tài chính cho sinh viên trong bối cảnh đổi mới cơ chế hoạt động tại Trường Đại học Ngoại thương” phân tích thực trạng hoạt động hỗ trợ tài chính cho sinh viên của Trường, những điềm cần lưu ý trong quy định của Nhà nước liền quan đến cơ chế hỗ trợ sinh viên, cho rằng cần căn cứ trên điều kiện thực tế dé dam bảo mục tiêu thu hút sinh viên giỏi tham gia học tập tại Trường và không làm giảm cơ hội tiếp cận giáo dục của sinh viên nghèo, sinh viên là đối tượng chính sách nhằm phát triên toàn điện cho người học. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lí 1] Quan li là hoạt động khó khăn, phức tap nhưng có ý nghĩa quan trọng với xã hội.
Khái niệm quản lí là khái niệm rất chung, tông quát. Mỗi người sẽ có những quan điểm khác nhau vé quản lí. Dưới đây là một số khái niệm chủ yếu: Theo Đại Bách khoa toàn thư Liên Xô (1977) “Quản lí là chức năng của những hệ thông có tô chức với bản chất khác nhau (xã hội, sinh vat, kĩ thuat), nó bảo toàn cầu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện những chương trình, mục đích hoạt động”. Theo Các Mác (1993) “Bat cứ một lao động mang tính chất xã hội trực tiếp hay lao động cùng nhau, được thực hiện ở quy mô tương đối lớn, đều cần đến mức độ nhiều hay ít sự quản lí, nhằm thiết lập sự phối hợp giữa những công việc cá nhân và thực hiện những chức năng chung, nay sinh từ vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất, khác với sự vận động của các cơ quan độc lập nó”.
Theo Stroner và Robbins (1995) “Quản lí là quá trình lập kế hoạch, tô chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên trong tô chức và sử dụng mọi người lực có săn của tô chức đê đát những mục tiêu của tô chức”. Bùi Minh Hiền (2006) định nghĩa: “Quan lí là sự tác động có tô chức, có hướng đích của chủ thé quản lí tới đối tượng quản lí nhằm đạt mục tiêu dé ra”. Trần Kiêm (2004) cho rằng: “Quan lí là những tác động của chủ thé quản lí trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tô chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu, nhằm đạt mục đích của tô chức với hiệu quả cao nhất”. Quan lí (Robert Kreitner) “La tiền trình làm việc với con người và thông qua con người nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức trong một môi trường luôn thay đôi.
Trọng tâm của quá trình nay là sử dụng hiệu quả nguồn lực có giới han.” (Khoa Quản trị kinh doanh, ĐH Kinh tế TP. Như vậy, bản chất của quan lí là cách thức tác động hợp quy luật của chú thé quan lí đến khách thé và đối tượng quan lí trong một tô chức nhằm làm cho tô chức vận hành đáp ứng kì vọng và đạt được mục tiêu đã đề ra. Trong giới hạn của đề tài nghiên cứu, chúng tôi tiếp cận khái niệm quản lí theo nghĩa là tác động có hướng đích, có tổ chức của chủ thể quản lí lên khách thể quản lí và đối tượng quan lí trong một tổ chức nhằm sử dụng có hiệu quả các tiềm năng, cơ hội của tô chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường, làm cho tổ chức vận hành có hiệu quả. Quan lí giáo duc Thuật ngữ quản lí giáo dục có thê hiểu theo 2 cap độ là vi mô và vĩ mô.
Đối với cấp vĩ mô, quản lí giáo dục được hiéu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thẻ quản lí đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nha trường) nhăm thực hiện có chất lượng giáo dục và hiệu quả mục tiêu phát trién giáo dục, dao tạo thé hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục. Đối với cấp vi mô, quản lí giáo dục là hệ 13 thông những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thê quản lí đến tập thê giáo viên, công nhân viên, tập thê học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường.