Tổng quan luận án
Công tác quản lý chất thải y tế tại các cơ sở khám chữa bệnh là một trong những thách thức môi trường và sức khỏe cộng đồng lớn tại Việt Nam. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), khoảng 10% chất thải bệnh viện là chất thải nhiễm khuẩn và khoảng 5% là chất thải độc hại. Báo cáo của Bộ Y tế năm 2005 chỉ ra rằng tổng lượng chất thải rắn y tế phát sinh trên toàn quốc đạt khoảng 300 tấn/ngày, trong đó chất thải rắn y tế nguy hại chiếm khoảng 40 tấn/ngày. Đến năm 2006, tỷ lệ bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải đạt 37%, nhưng chỉ có 30% trong số này vận hành đạt quy chuẩn cho phép. Dù 90,9% bệnh viện thực hiện thu gom chất thải hàng ngày, chỉ có khoảng 50% cơ sở phân loại và thu gom đúng yêu cầu chuyên môn.
Tại tỉnh Hà Giang – một địa bàn miền núi cao biên giới, hệ thống khám chữa bệnh gồm 4 bệnh viện tuyến tỉnh và 11 bệnh viện tuyến huyện đối mặt với áp lực lớn về cơ sở hạ tầng, sự xuống cấp của các công trình phụ trợ và hạn chế về nguồn lực đầu tư sau khi triển khai cơ chế tự chủ tài chính theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP. Thực trạng quản lý, xử lý chất thải y tế tại các bệnh viện tỉnh và huyện trên địa bàn còn bộc lộ nhiều bất cập, nguy cơ gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của nhân viên y tế cùng cộng đồng dân cư lân cận. Luận án Bác sỹ Chuyên khoa cấp II chuyên ngành Y tế công cộng (mã số: CK 62 72 76 01) của tác giả Nguyễn Mạnh Hà, thực hiện tại Trường Đại học Y Dược – Đại học Thái Nguyên năm 2013 dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Công Hoàng và GS. TS. Đỗ Văn Hàm, được triển khai nhằm giải quyết khoảng trống dữ liệu thực tiễn và đưa ra căn cứ khoa học cho công tác can thiệp tại địa phương.
Luận án xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Đánh giá thực trạng quản lý chất thải y tế tại các bệnh viện của tỉnh Hà Giang.
- Mô tả một số yếu tố liên quan đến quản lý chất thải y tế tại các bệnh viện của tỉnh Hà Giang.
- Đề xuất một số giải pháp can thiệp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất thải y tế tại các bệnh viện của tỉnh Hà Giang.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Chất thải y tế (chất thải rắn y tế lây nhiễm, hóa học, thông thường; chất thải lỏng/nước thải bệnh viện; hệ thống hồ sơ, sổ sách quản lý); Cán bộ, nhân viên y tế trực tiếp tiếp xúc với chất thải (bác sỹ, điều dưỡng, kỹ thuật viên, nữ hộ sinh, hộ lý).
- Phạm vi không gian: 4 bệnh viện đại diện trên địa bàn tỉnh Hà Giang gồm Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Giang, Bệnh viện Lao tỉnh Hà Giang, Bệnh viện Đa khoa huyện Xín Mần (đại diện vùng thấp) và Bệnh viện Đa khoa huyện Đồng Văn (đại diện vùng cao).
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được thu thập số liệu và triển khai thực địa từ ngày 01/01/2013 đến ngày 30/11/2013.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng thuật hệ thống nghiên cứu quốc tế và trong nước về phát sinh, phân loại, công nghệ xử lý và các nguy cơ sức khỏe nghề nghiệp liên quan đến chất thải y tế.
Nghiên cứu quốc tế
Các quốc gia phát triển như Anh, Mỹ, Nhật Bản, Canada đã sớm thiết lập quy chuẩn quản lý chuyên biệt. Năm 1992, WHO đưa ra khuyến cáo phân loại chất thải y tế cho các nước đang phát triển thành 5 nhóm: chất thải không độc hại, vật sắc nhọn, chất thải nhiễm khuẩn, chất thải hóa học/dược phẩm, và chất thải nguy hiểm khác. Tại Mỹ, Cơ quan Bảo vệ Môi trường (EPA) phân loại chất thải y tế thành 8 nhóm chuyên biệt. Các nghiên cứu dịch tễ học quốc tế chỉ ra tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn chiếm 12,5% ở công nhân xử lý rác; tại Mỹ có từ 162 đến 321 trường hợp nhiễm virus viêm gan B (HBV) mỗi năm do phơi nhiễm chất thải y tế. Tại Nhật Bản, khảo sát năm 1986 ghi nhận 67,3% nhân viên thu gom rác trong bệnh viện và 44,4% người thu gom rác ngoài bệnh viện bị thương tích do vật sắc nhọn; Shiro Shirato (1987) ghi nhận hơn 500 ca nhiễm bệnh liên quan chất thải bệnh viện và hơn 400 ca chịu tác hại sinh học từ thuốc gây độc tế bào. Tại Nam Mỹ (Chile, Peru), việc xả thải nước thải y tế chưa qua xử lý ra môi trường từng được xác định là nguồn trung gian làm bùng phát dịch tả.
Nghiên cứu tại Việt Nam
Các công trình nghiên cứu của Nguyễn Đức Khiển, Nguyễn Huy Nga, Lê Doãn Diên, Báo cáo Diễn biến Môi trường Việt Nam năm 2004 của Ngân hàng Thế giới (WB) và Bộ Xây dựng đưa ra các ước tính dao động từ 16,5 đến 70 tấn chất thải rắn y tế nguy hại/ngày do sự khác biệt trong tiêu chí tính toán (có hoặc không tính bùn thải, phế thải xây dựng). Khảo sát của Bộ Y tế năm 2001 tại 280 bệnh viện ghi nhận lượng chất thải rắn phát sinh là 429 tấn/ngày (34 tấn chất thải nguy hại/ngày).
Các tác giả Đào Ngọc Phong và cộng sự (1996, 2006) đã chứng minh sự gia tăng tỷ lệ mắc bệnh tiêu hóa ở cộng đồng dân cư sinh sống gần nguồn xả nước thải bệnh viện không qua xử lý đạt chuẩn. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Thái (1998), Đinh Hữu Dung (2001–2002), Bùi Văn Trường và Nguyễn Tất Hà (1998), Trần Thị Minh Tâm (2006) tại các bệnh viện Hà Nội, Hải Dương và các tỉnh phía Bắc khẳng định tỷ lệ nhân viên y tế hiểu sai hoặc không biết mã màu quy định còn cao (từ 43,5% đến 55,8%), hệ thống thoát nước đa số là cống chung, nước thải có chỉ số COD, BOD5, Coliform vượt quy chuẩn kỹ thuật nhiều lần.
Khoảng trống nghiên cứu
Mặc dù đã có các nghiên cứu diện rộng cấp quốc gia hoặc tại các đô thị đồng bằng, các dữ liệu định lượng và định tính toàn diện về mô hình phát sinh chất thải, thực trạng công nghệ xử lý tại chỗ, chất lượng nước thải đầu ra theo Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia QCVN 28:2010/BTNMT, cũng như mức độ nhận thức - thái độ - thực hành (KAP) của nhân viên y tế tại các cơ sở khám chữa bệnh miền núi, biên giới đặc thù như tỉnh Hà Giang vẫn chưa được khảo sát đầy đủ. Luận án định vị trọng tâm vào việc phân tích thực trạng đa tuyến (tuyến tỉnh, tuyến huyện vùng cao, tuyến huyện vùng thấp) tại địa phương này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở pháp lý và khung phân tích
Luận án vận dụng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước và Bộ Y tế làm khung tham chiếu đánh giá, bao gồm:
- Điều 39, Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 quy định về bảo vệ môi trường trong bệnh viện và cơ sở y tế.
- Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Quy chế Quản lý chất thải y tế.
- Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
- Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT và Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường về mã số quản lý chất thải nguy hại (mã 1301).
- Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải y tế QCVN 28:2010/BTNMT và QCVN 08:2008/BTNMT.
Thiết kế nghiên cứu và cỡ mẫu
Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang, kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính.
Mẫu nghiên cứu:
Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu
- Định lượng chất thải rắn: Cân định lượng trực tiếp toàn bộ khối lượng phát sinh hàng ngày trong 3 đợt, tính toán chỉ số phát sinh trung bình kg/giường bệnh/ngày và phân loại tỷ lệ chất thải nguy hại/chất thải thông thường.
- Xét nghiệm mẫu nước thải: Mẫu nước thải lấy tại hố ga đầu ra cuối cùng trước khi thải vào cống chung khu dân cư (áp dụng Cột B của QCVN 28:2010/BTNMT). Phân tích tại Khoa Xét nghiệm – Trung tâm Y tế Dự phòng tỉnh Hà Giang theo các tiêu chuẩn: TCVN 6187-2:1996 (E. coli, Coliform), TCVN 4829:2001 (Salmonella), TCVN 6179-2:1996 (NH4), APHA 4500-N (Tổng Nito), TCVN 6492:1999 (pH), TCVN 6001-1:2008 (BOD5), TCVN 6491:1999 (COD).
| Thông số |
Đơn vị |
Giới hạn Cột A |
Giới hạn Cột B |
| pH |
- |
6,5 – 8,5 |
6,5 – 8,5 |
| BOD5 (20°C) |
mg/l |
30 |
50 |
| COD |
mg/l |
50 |
100 |
| Tổng chất rắn lơ lửng (TSS) |
mg/l |
50 |
100 |
| Sunfua (tính theo H2S) |
mg/l |
1,0 |
4,0 |
| Tổng Coliforms |
MPN/100ml |
Không phát hiện |
5.000 |
| Salmonella, Shigella, V. cholerae |
VK/100ml |
Không phát hiện |
Không phát hiện |
- Đánh giá bảng kiểm và KAP: Xây dựng thang điểm kiểm tra điều kiện thu gom, vận chuyển, lưu giữ, xử lý chất thải (thang điểm chuẩn: thu gom 42 điểm, vận chuyển/lưu giữ 46 điểm, xử lý 18 điểm). Thang điểm KAP gồm 9 tiêu chí phân nhóm chất thải và mã màu quy định (≥80% là Tốt, 50–80% là Đạt/Khá, <50% là Không đạt).
- Xử lý số liệu: Nhập liệu và phân tích thống kê y học bằng phần mềm EPI-INFO 6, kiểm định giả thuyết và so sánh các tỷ lệ bằng test Chi-square ($p < 0,05$).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý chất thải y tế, phân tích các nguồn phát sinh, đặc tính nguy hại lý hóa học và sinh học của 5 nhóm chất thải theo Quyết định 43/2007/QĐ-BYT (chất thải lây nhiễm, chất thải hóa học nguy hại, chất thải phóng xạ, bình chứa khí áp suất, chất thải thông thường).
Tác giả so sánh hệ số phát sinh chất thải theo quy mô bệnh viện giữa các giai đoạn:
| Tuyến bệnh viện |
Tổng CTYT (kg/GB/ngày) - Bộ Y tế 2002 |
CTYT nguy hại (kg/GB/ngày) - Bộ Y tế 2002 |
Tổng CTYT (kg/GB/ngày) - Bộ Y tế 2009 |
CTYT nguy hại (kg/GB/ngày) - Bộ Y tế 2009 |
| Tuyến Trung ương |
4,1 – 8,7 |
0,4 – 1,6 |
0,97 |
0,16 |
| Tuyến tỉnh |
2,1 – 4,2 |
0,2 – 1,1 |
0,88 |
0,14 |
| Tuyến huyện |
0,5 – 1,8 |
0,1 – 0,4 |
0,73 |
0,11 |
| Mức chung cả nước |
- |
- |
0,86 |
0,14 |
Chương này cũng tổng hợp các cơ chế lây truyền mầm bệnh qua đường máu, hô hấp, tiêu hóa; ghi nhận các rủi ro phơi nhiễm nghề nghiệp (viêm gan B, C, HIV) và tổng quan thực trạng hạ tầng xử lý rác thải rắn (lò đốt Hoval, lò đốt 2 buồng, đốt thủ công, chôn lấp) và nước thải y tế (lọc sinh học ngập nước cải tiến, lọc sinh học nhỏ giọt) tại Việt Nam.
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết đối tượng, địa bàn, tiêu chuẩn lựa chọn, công thức tính toán cỡ mẫu điều tra định lượng ($N = 297$), tiêu chuẩn kỹ thuật lấy mẫu và kiểm định mẫu nước thải 3 lần/ngày bằng chai thủy tinh 750ml vô trùng, các tiêu chí đánh giá bảng kiểm quản lý, quy trình phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm, quy trình kiểm soát sai số và các cam kết về đạo đức nghiên cứu y sinh học.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm và khảo sát thực địa tại 4 bệnh viện nghiên cứu của tỉnh Hà Giang:
1. Đặc điểm cơ sở hạ tầng và đối tượng nghiên cứu
| Chỉ số khảo sát |
Đơn vị |
BVĐK tỉnh |
BV Lao |
BVĐK Xín Mần |
BVĐK Đồng Văn |
| Diện tích bệnh viện |
$\text{m}^2$ |
24.087 |
- |
- |
- |
| Khoảng cách đến khu dân cư |
m |
25 |
30 |
30 |
30 |
| Tổng số cán bộ, nhân viên |
Người |
520 |
106 |
103 |
116 |
| Số giường kế hoạch / thực kê |
GB |
420 / 420 |
120 / 100 |
80 / 120 |
80 / 120 |
| Khám bệnh bình quân/ngày |
Lượt |
268 |
52 |
29 |
28 |
| Công suất sử dụng giường |
% |
96,4 |
42,5 |
81,4 |
66,9 |
| Nước tiêu thụ bình quân/ngày |
$\text{m}^3$/ngày |
250 |
75 |
80 |
72 |
Trong 297 cán bộ y tế tham gia khảo sát KAP: 71,4% là nữ (cao nhất tại BVĐK tỉnh: 81,3%); nhóm tuổi <30 tuổi chiếm 47,8%; nhóm tuổi 31–39 chiếm 30,6%; trình độ trung cấp và sơ cấp chiếm đa số với 87,2% (259 người), trình độ đại học chiếm 12,8% (38 người). Nhóm bác sỹ tập trung chủ yếu ở độ tuổi 31–39 (56,8%).
2. Khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh
| Chỉ tiêu chất thải rắn |
Đơn vị |
BVĐK tỉnh |
BV Lao |
BVĐK Xín Mần |
BVĐK Đồng Văn |
Mức chung 4 BV |
| Tổng lượng CTYT phát sinh |
kg/ngày |
210 |
24 |
36 |
22 |
292 |
| - Chất thải lây nhiễm |
kg/ngày |
60 |
4 |
8 |
4 |
76 |
| - Chất thải thông thường |
kg/ngày |
150 |
20 |
28 |
18 |
216 |
| Khối lượng CTYT / giường / ngày |
kg/GB |
0,50 |
0,24 |
0,30 |
0,18 |
0,38 |
| Khối lượng CTYT nguy hại / GB / ngày |
kg/GB |
0,14 |
0,04 |
0,06 |
0,03 |
0,10 |
| Tỷ lệ CTYT nguy hại / Tổng CTYT |
% |
28,0 |
16,7 |
20,0 |
16,7 |
26,3 |
3. Bảng kiểm thực trạng thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý chất thải rắn
- Thu gom: Điểm đánh giá đạt từ 37/42 đến 39/42 điểm. Cả 4 bệnh viện đều tồn tại hiện tượng phân loại rác chưa triệt để tại nơi phát sinh, chưa vệ sinh thùng đựng rác hàng ngày và đổ rác tràn thùng xe.
- Vận chuyển và lưu giữ: BVĐK tỉnh đạt 38/46 điểm (82,6%), BV Lao đạt 36/46 (78,3%), BV Đồng Văn đạt 34/46 (73,9%), BV Xín Mần đạt 38/46 (82,6%). Tất cả 4 bệnh viện không có đường vận chuyển riêng cho chất thải y tế, còn hiện tượng rơi vãi/phát sinh mùi, và 100% bệnh viện không có nhà lạnh để lưu giữ chất thải nguy hại.
- Xử lý chất thải rắn: BVĐK tỉnh đạt 16/18 điểm (88,9%), BV Lao đạt 15/18 (83,3%), BV Đồng Văn và Xín Mần chỉ đạt 12/18 điểm (66,7%). Tại 2 bệnh viện huyện, chất thải nguy hại chưa được xử lý qua lò đốt đạt chuẩn mà chỉ đốt tại hố thủ công.
4. Chất lượng nước thải bệnh viện đầu ra theo QCVN 28:2010/BTNMT
| Chỉ số xét nghiệm |
Đơn vị |
Quy chuẩn (Cột B) |
BVĐK tỉnh |
BV Lao |
BVĐK Xín Mần |
BVĐK Đồng Văn |
| Độ pH |
- |
6,5 – 8,5 |
7,0 |
6,7 |
7,16 |
6,97 |
| $\text{NO}_3^-$ |
mg/l |
50 |
35 |
25 |
25 |
25 |
| $\text{NH}_4^+$ |
mg/l |
10 |
1,11 |
10,78 |
3,76 |
0,022 |
| $\text{H}_2\text{S}$ |
mg/l |
4,0 |
2,5 |
3,0 |
2,2 |
2,5 |
| Phosphat |
mg/l |
10 |
6,0 |
6,5 |
5,8 |
6,7 |
| $\text{BOD}_5$ (20°C) |
mg/l |
50 |
45 |
41 |
32 |
38 |
| COD |
mg/l |
100 |
50 |
42 |
46 |
54 |
| Tổng chất rắn lơ lửng (TSS) |
mg/l |
100 |
40 |
35 |
25 |
30 |
| Tổng Coliforms |
MPN/100ml |
5.000 |
100 |
46.000 |
100 |
110.000 |
| Salmonella |
VK/100ml |
KPH |
Phát hiện |
Phát hiện |
Phát hiện |
Không phát hiện |
| Shigella |
VK/100ml |
KPH |
Không |
Không |
Không |
Không |
| V. cholerae |
VK/100ml |
KPH |
Không |
Không |
Không |
Không |
Nhận định: Về hóa sinh, phần lớn chỉ số nằm trong giới hạn cho phép, riêng $\text{NH}_4^+$ tại BV Lao vượt nhẹ quy chuẩn (10,78 mg/l). Về vi sinh, mức độ ô nhiễm rất nghiêm trọng: Tổng Coliforms tại BV Lao gấp 9,2 lần và tại BV Đồng Văn gấp 22 lần giới hạn cho phép; 3/4 bệnh viện (BVĐK tỉnh, BV Lao, BV Xín Mần) phát hiện vi khuẩn Salmonella trong nước thải đầu ra.
5. Đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành (KAP) của nhân viên y tế
| Tiêu chí khảo sát KAP |
BVĐK tỉnh (1) ($n=75$) |
BV Lao (2) ($n=75$) |
BVĐK Xín Mần (3) ($n=74$) |
BVĐK Đồng Văn (4) ($n=73$) |
Tổng chung ($N=297$) |
Ý nghĩa thống kê ($p$) |
| Kiến thức phân nhóm CTYT đạt loại Tốt |
66,67% |
73,33% |
95,95% |
79,45% |
- |
$p_{1-2} < 0,05; p_{3-4} < 0,05; p_{1-3} < 0,05$ |
| Kiến thức về quy định mã màu đạt loại Tốt |
6,67% |
12,00% |
14,87% |
5,48% |
- |
$p < 0,05; p_{1-3} < 0,05; p_{2-4} < 0,05$ |
| Kiến thức chung về an toàn CTYT loại Tốt |
6,67% |
12,00% |
14,86% |
6,85% |
- |
$p < 0,05; p_{1-3} < 0,05$ |
| Thái độ quan tâm thực hiện Quy chế |
96,00% |
100% |
100% |
100% |
98,99% |
- |
| - Thường xuyên kiểm tra nhân viên |
37,33% |
54,67% |
52,70% |
35,62% |
45,12% |
- |
| - Thường xuyên nhắc nhở người bệnh |
41,33% |
65,33% |
63,51% |
38,36% |
52,19% |
- |
| Thực hành an toàn QLCTYT đạt loại Tốt |
5,34% |
14,66% |
13,51% |
5,48% |
- |
$p_{1-3} < 0,05; p_{2-4} < 0,05$ |
| Thực hành an toàn QLCTYT mức Không đạt |
37,33% |
18,67% |
16,22% |
39,73% |
- |
$p < 0,05$ |
Nhận định định tính: Thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu chỉ ra việc thực hành của cán bộ nhân viên thường chỉ nghiêm túc trong các đợt thi đua hoặc khi có đoàn kiểm tra; thiếu nhân lực chuyên trách tại các khoa phòng (BVĐK tỉnh và BV Lao thuê khoán công ty dịch vụ bên ngoài làm giảm tính chủ động); thiếu kinh phí đầu tư sửa chữa lò đốt và hóa chất vận hành xử lý nước thải.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt khoa học và thực tiễn
- Dữ liệu thực nghiệm toàn diện: Luận án cung cấp bộ số liệu thực địa đầu tiên, đầy đủ về hệ số phát sinh chất thải rắn y tế ($0,38\text{ kg/GB/ngày}$ tổng chất thải; $0,10\text{ kg/GB/ngày}$ chất thải nguy hại) và đặc trưng nước thải y tế tại hệ thống bệnh viện đa tuyến tỉnh Hà Giang.
- Cảnh báo ô nhiễm vi sinh vật: Phát hiện tình trạng ô nhiễm vi sinh vật ở mức cao trong nước thải y tế đầu ra (Coliforms vượt chuẩn từ 9,2 đến 22 lần; phát hiện Salmonella tại 3/4 bệnh viện) do hệ thống xử lý nước thải vận hành không đạt yêu cầu hoặc xả trực tiếp ra hệ thống thoát nước dân cư.
- Chỉ ra lỗ hổng KAP: Xác định sự mất cân đối giữa thái độ (98,99% quan tâm) với kiến thức chuẩn về mã màu (chỉ 5,48%–14,87% đạt loại tốt) và thực hành an toàn (chỉ 5,34%–14,66% đạt loại tốt), làm cơ sở xây dựng các chương trình đào tạo liên tục.
Đề xuất và giải pháp can thiệp
- Về tổ chức và đào tạo: Kiện toàn Ban Quản lý chất thải y tế tại từng bệnh viện; phân định trách nhiệm cụ thể của điều dưỡng trưởng và hộ lý; chuẩn hóa chương trình tập huấn Quy chế Quản lý chất thải y tế theo hướng thực hành thường xuyên; đưa tiêu chí quản lý chất thải vào đánh giá thi đua khoa/phòng.
- Về hạ tầng và kỹ thuật: Đầu tư nâng cấp hệ thống lò đốt rác chuyên dụng 2 buồng đạt chuẩn khí thải cho các bệnh viện tuyến huyện, chấm dứt đốt thủ công lộ thiên; quy hoạch đường vận chuyển rác nội viện riêng biệt; trang bị kho/nhà lạnh lưu giữ chất thải nguy hại; duy trì cung ứng hóa chất khử trùng (Chloramin B) cho hệ thống xử lý nước thải.
- Về cơ chế tài chính: Bố trí ngân sách thường xuyên kết cấu chi phí xử lý chất thải vào giá dịch vụ giường bệnh để đảm bảo kinh phí bảo dưỡng thiết bị và vận hành hệ thống xử lý môi trường.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu được thực hiện giới hạn trên 4 bệnh viện đại diện tại tỉnh Hà Giang trong giai đoạn năm 2013; việc lấy mẫu nước thải thực hiện 3 lần trong một ngày nghiên cứu nên chưa phản ánh được biến thiên theo toàn bộ các mùa trong năm; số liệu định tính phụ thuộc vào tính khách quan của đối tượng phỏng vấn.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiến hành nghiên cứu can thiệp có đối chứng (trước - sau can thiệp) áp dụng mô hình đào tạo thực hành kết hợp cải tạo công nghệ xử lý nước thải chi phí thấp phù hợp với địa bàn vùng cao; mở rộng đánh giá nồng độ kháng sinh và vi khuẩn kháng thuốc trong nước thải y tế trước khi xả ra môi trường.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo thực tế cho:
- Lãnh đạo ngành Y tế và Sở Y tế các tỉnh miền núi: Căn cứ lập quy hoạch mạng lưới xử lý chất thải y tế, dự trù kinh phí đầu tư công trình bảo vệ môi trường và xây dựng đề án kiểm tra, giám sát chất thải bệnh viện.
- Ban Giám đốc và Hội đồng Kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện: Thiết lập quy trình thu gom, mã màu thùng rác, xây dựng danh mục kiểm tra định kỳ tại các khoa lâm sàng và cận lâm sàng.
- Giảng viên và học viên chuyên ngành Y tế công cộng, Y học dự phòng, Quản lý bệnh viện: Dữ liệu tham khảo về phương pháp luận nghiên cứu cắt ngang kết hợp định tính - định lượng, thiết kế bảng kiểm và ứng dụng quy chuẩn môi trường y tế.
Câu hỏi thường gặp
1. Khối lượng chất thải y tế phát sinh trung bình tại các bệnh viện nghiên cứu ở Hà Giang là bao nhiêu?
Theo kết quả cân định lượng tại 4 bệnh viện, tổng lượng phát sinh trung bình chung là $0,38\text{ kg/GB/ngày}$ (chất thải nguy hại chiếm $0,10\text{ kg/GB/ngày}$). Trong đó, BVĐK tỉnh có lượng phát sinh cao nhất ($0,50\text{ kg/GB/ngày}$; tỷ lệ chất thải nguy hại chiếm 28,0%), tiếp theo là BVĐK Xín Mần ($0,30\text{ kg/GB/ngày}$; nguy hại chiếm 20,0%), BV Lao ($0,24\text{ kg/GB/ngày}$; nguy hại 16,7%) và thấp nhất là BVĐK Đồng Văn ($0,18\text{ kg/GB/ngày}$; nguy hại 16,7%).
2. Chất lượng nước thải bệnh viện đầu ra tại các đơn vị khảo sát có đạt Quy chuẩn QCVN 28:2010/BTNMT không?
Các chỉ số hóa sinh (pH, BOD5, COD, TSS, H2S, Phosphat, NO3) phần lớn nằm trong giới hạn cho phép của Cột B, riêng NH4 tại BV Lao vượt nhẹ quy chuẩn ($10,78\text{ mg/l}$ so với giới hạn $10\text{ mg/l}$). Tuy nhiên, về mặt vi sinh vật, nước thải ô nhiễm nặng: Tổng Coliforms tại BV Lao đạt $46.000\text{ MPN/100ml}$ và tại BV Đồng Văn đạt $110.000\text{ MPN/100ml}$ (vượt xa giới hạn $5.000\text{ MPN/100ml}$); vi khuẩn Salmonella bị phát hiện trong nước thải của 3 bệnh viện (BVĐK tỉnh, BV Lao và BVĐK Xín Mần).
3. Những hạn chế lớn nhất trong hạ tầng và quy trình thu gom, vận chuyển chất thải tại 4 bệnh viện là gì?
100% bệnh viện nghiên cứu không có đường vận chuyển riêng cho chất thải y tế, còn tình trạng rơi vãi rác và phát sinh mùi; không có nhà lạnh để lưu giữ chất thải nguy hại; cả 2 bệnh viện tuyến huyện (Đồng Văn, Xín Mần) chưa có lò đốt chuyên dụng đạt chuẩn mà phải xử lý chất thải nguy hại bằng cách đốt tại hố thủ công.
4. Mức độ hiểu biết và thực hành an toàn về chất thải y tế của cán bộ y tế đạt mức nào?
Mặc dù 98,99% cán bộ thể hiện thái độ quan tâm đến Quy chế, tỷ lệ có kiến thức tốt về mã màu phương tiện chứa chất thải chỉ đạt từ 5,48% đến 14,87%. Tỷ lệ thực hành an toàn đạt loại tốt rất thấp, chỉ từ 5,34% (BVĐK tỉnh) đến 14,66% (BV Lao); tỷ lệ thực hành mức không đạt dao động từ 16,22% đến 39,73%. Bệnh viện Đa khoa Xín Mần và Bệnh viện Lao có điểm kiến thức và thực hành tốt hơn Bệnh viện Đa khoa tỉnh và Bệnh viện Đồng Văn ($p < 0,05$).
Kết luận
Luận án của tác giả Nguyễn Mạnh Hà đã phản ánh toàn diện bức tranh thực trạng quản lý chất thải y tế tại 4 bệnh viện đại diện của tỉnh Hà Giang năm 2013, làm rõ khối lượng phát sinh ($0,38\text{ kg/GB/ngày}$), thực trạng ô nhiễm vi sinh trong nước thải y tế đầu ra và những hạn chế về hạ tầng kỹ thuật cùng năng lực thực hành an toàn của nhân viên y tế. Kết quả nghiên cứu khẳng định tính cấp thiết của việc đầu tư lò đốt chuyên dụng, nâng cấp hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn QCVN 28:2010/BTNMT và tăng cường đào tạo thực hành định kỳ tại chỗ. Đây là công trình có giá trị khoa học và ứng dụng thực tiễn cao đối với công tác bảo vệ môi trường và y tế công cộng tại các địa bàn miền núi khó khăn.