Đặt vấn đề Ngày nay, cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, việc khai thác tài nguyên thiên nhiên để phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội càng nhiều, dẫn đến tài nguyên thiên nhiên ngày càng cạn kiệt. Qua đó, con người đã nhận ra mối quan hệ tác động qua lại giữa hoạt động kinh tế – xã hội – môi trường tự nhiên. Con người do hoạt động của mình đã làm biến đổi môi trường và sự biến đổi đó đã tác động trở lại sự sống của con người. Vì vậy, bảo vệ môi trường là trách nhiệm chung của toàn xã hội.
Việt Nam tuy là một nước đang phát triển, nền kinh tế sản xuất còn lạc hậu tuy nhiên không vì thế mà Đảng và Nhà nước coi nhẹ vấn đề môi trường. Nhà nước có chủ trương loại bỏ các dự án đầu tư gây nguy cơ ô nhiễm cao, bên cạnh đó đưa ra các chính sách nhằm bảo vệ môi trường, một trong những mục tiêu quan trọng đó là việc quản lý về cơ bản các chất thải độc hại trong đó có chất thải y tế, đặc biệt đó là chất thải rắn y tế nguy hại. Theo thống kê của Cục môi trường Việt Nam năm 2004 về chất thải nguy hại mỗi năm của nước ta thải ra ngoài môi trường 10946 tấn/năm, riêng tại TP. HCM mỗi năm thải ra môi trường chiếm tới 42% tổng lượng thải của cả nước.
Theo đánh giá của tổ chức Y tế thế giới, trong thành phần chất thải bệnh viện có tới 20% đến 25% là chất thải y tế nguy hại, trong đó có khoảng 15% là chất thải lâm sàng có khả năng gây lây nhiễm và truyền bệnh cao như: kim tiêm, dao mổ, các mô bệnh, bông băng dính máu của bệnh nhân, nhau thai sau khi sinh đẻ… Vì vậy, việc đánh giá hiệu quả công tác thu gom, quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện cần cụ thể hơn, kết hợp với quá trình giám sát thực tế giúp tìm hiểu những thiếu sót còn tồn tại trong công tác thu gom và quản lý hiện nay của bệnh viện, góp phần làm tăng hiểu biết và nâng cao ý thức cũng như chất lượng điều trị. Từ đó, nâng cao chất lượng quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa huyện Quế Phong – tỉnh Nghệ An. Từ những thực tế đó, được sự đồng ý và giúp đỡ của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiêm khoa Môi trường, dưới sự hướng dẫn tận tình của cô giáo Ths. Nguyễn Thị Huệ, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An”, 2 nhằm góp phần làm rõ hơn về hiện trạng quản lý chất thải rắn của bệnh viện, tìm ra giải pháp và nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn cho bệnh viện và có các giải pháp xử lý và khắc phục hợp lý, phù hợp với các tiêu chuẩn môi trường cho phép, tránh tác động đến môi trường.
Mục đích đề tài - Đánh giá công tác thu gom và xử lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa huyện Quế Phong. - Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác thu gom và quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa huyện Quế Phong. Yêu cầu của đề tài - Nắm chắc các Nghị định, Thông tư, Quyết định, Văn bản hướng dẫn hiện hành về công tác thu gom và quản lý chất thải rắn y tế. - Số liệu thu thập phải khách quan, trung thực, chính xác.
- Phản ánh đầy đủ, đúng đắn công tác thu gom và quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa huyện Quế Phong. - Số liệu điều tra, thu thập phải bảo đảm chính xác, khách quan. - Các giải pháp đưa ra phải có tính khả thi, phù hợp với điều kiện thực tế của cơ sở. - Nâng cao kiến thức thực tế của bản thân phục vụ cho công tác sau khi ra trường.
Ý nghĩa đề tài - Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: Bổ sung những kiến thức đã học trên lớp, học hỏi, tiếp cập những kiến thức, kinh nghiệm ngoài thực tế và hiểu rõ hơn về hiện trạng chất lượng môi trường cũng như là thành phần, tính độc hại, nguy hiểm của các chất thải rắn trong y tế hiện này. - Ý nghĩa trong thực tế: Đánh giá được các mặt tích cực, hạn chế trong công tác thu gom, quản lý, vận chuyển và xử lý chất thải rắn y tế. Từ đó đưa ra những giải pháp có tính khả thi, rút ra những bài học kinh nghiệm cho công tác quản lý, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn trong ý tế hiện nay. 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học của đề tài 2. Một số khái niệm về chất thải rắn y tế - Chất thải y tế (CTYT): Theo qui định về quản lý chất thải y tế của Bộ Y tế ban hành, chất thải y tế là chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế, từ hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, phòng bệnh, nghiên cứu, đào tạo, chất thải y tế có thể ở dạng rắn, lỏng, khí.(Bộ Y tế, 2007)[6] - Chất thải y tế nguy hại (CTYTNH): Là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ, phóng xạ, dễ cháy nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu hủy an toàn. - Rác y tế (RYT): Là phần chất thải y tế ở dạng rắn, không tính chất thải dạng lỏng và khí, được thu gom và xử lý riêng. - Rác sinh hoạt y tế: Là chất thải không xếp vào chất thải nguy hại, không có khả năng gây độc, không cần lưu giữ, xử lý đặc biệt; là chất thải phát sinh từ các khu vực bệnh viện: giấy, plastic, thực phẩm, chai lọ… 2.
Phân loại chất thải rắn y tế 2. Chất thải thông thường Chất thải thông thường là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm: - Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly). - Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ thủy tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gãy xương kín. Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa học nguy hại.
- Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng các tông, túi nylon, túi đựng phim… - Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh. Chất thải lây nhiễm - Chất thải sắc nhọn (loại A): Là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các vật sắc nhọn khác sử dụng trong các hoạt động y tế. 4 - Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): Là chất thải bị thấm máu, thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly. - Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): Là chất thải phát sinh trong các phòng xét nghiệm như: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm.
- Chất thải giải phẫu (loại D): Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể người: rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm 2. Chất thải phóng xạ Tại các cơ sở y tế, chất thải phóng xạ phát sinh từ các hoạt động chuẩn đoán, hóa trị liệu, và nghiên cứu. Chất thải phóng xạ gồm: dạng rắn, lỏng và khí. - Chất thải phóng xạ rắn bao gồm: Các vật liệu sử dụng trong các xét nghiệm, chuẩn đoán, điều trị như ống tiêm, bơm tiêm, kim tiêm, kính bảo hộ, giấy thấm, gạc sát khuẩn, ống nghiệm, chai lọ đựng chất phóng xạ… - Chất thải phóng xạ lỏng bao gồm: Dung dịch có chứa chất phóng xạ phát sinh trong quá trình chuẩn đoán, điều trị như nước tiểu của người bệnh, các chất bài tiết, nước súc rửa các dụng cụ có chất phóng xạ… - Chất thải phóng xạ khí bao gồm: Các chất khí thoát ra từ kho chứa chất phóng xạ… 2.
Chất thải hóa học nguy hại Chất thải hóa học bao gồm các hóa chất có thể không gây nguy hại như đường, axit béo, axit amin, một số loại muối… và hóa chất nguy hại như Formaldehit, hóa chất quang học, các dung môi, hóa chất dùng để tiệt khuẩn y tế và dung dịch làm sạch, khử khuẩn, các hóa chất dùng trong tẩy uế, thanh trùng… Chất thải hóa học nguy hại gồm: - Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng - Formaldehit: Đây là hóa chất thường được sử dụng trong bệnh viện, nó được sử dụng để làm vệ sinh, khử khuẩn dụng cụ, bảo quản bệnh phẩm hoặc khử khuẩn các chất thải lỏng nhiễm khuẩn. Nó được sử dụng trong các khoa giải phẫu bệnh, lọc máu, ướp xác… - Các chất quang hóa: Các dung dịch dùng để cố định phim trong khoa Xquang. - Các dung môi: Các dung môi dùng trong cơ sở y tế gồm các hợp chất của halogen như metyl clorit, chloroform, các thuốc mê bốc hơi như halothane; các hợp chất không chứa halogen như xylene, axeton, etyl axetat… 5 - Các chất hoá học hỗn hợp: Bao gồm các dung dịch làm sạch và khử khuẩn như phenol, dầu mỡ và các dung môi làm vệ sinh… - Chất gây độc tế bào, gồm: Vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng hóa trị liệu. - Chất thải chứa kim loại nặng: Thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy ngân bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy), chì (từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị).
Các bình chứa có khí áp xuất Nhóm này bao gồm các bình chứa khí nén có áp suất như bình đựng oxy, CO2, bình gas, bình khí dung, các bình chứa khí sử dụng một lần… Đa số các bình chứa khí nén này thường dễ nổ, dễ cháy nguy cơ tai nạn cao nếu không được tiêu hủy đúng cách. Nguồn phát sinh và khối lượng chất thải rắn y tế 2.