Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học về chất thải y tế và quản lý chất thải y tế 1. Một số khái niệm Theo Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31 tháng 12 năm 2015 quy định về quản lý chất thải y tế [16]: - Chất thải y tế là chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động của các cơ sở y tế, bào gồm chất thải. - Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố lấy nhiễm hoặc đặc tính nguy hại khác vượt ngưỡng chất thải nguy hại, bao gồm chất thải lây nhiễm và chất thải nguy hại không lây nhiễm.
- Quản lý chất thải y tế là quá trình làm giảm thiểu, phân định, phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải y tế và giám sát quá trình thực hiện. - Giảm thiểu chất thải y tế là các hoạt động làm hạn chế tối đa sự phát thải chất thải y tế. - Thu gom chất thải y tế là quá trình tập hợp chất thải y tế từ nơi phát sinh và vận chuyển về khu vực lưu giữ, xử lý chất thải y tế trong khuôn viên cơ sở y tế. - Vận chuyển chất thải y tế là quá trình chuyên chở chất thải y tế từ nơi lưu giữ chất thải trong cơ sở y tế đến nơi lưu giữ, xử lý chất thải của cơ sở xử lý chất thải y tế cho cụm cơ sở y tế, cơ sở xử lý chất thải y tế nguy hại tập trung hoặc cơ sở xử lý chất thải nguy hại tập trung có hạng mục xử lý chất thải y tế.
Thành phần chất thải rắn y tế - Thành phần vật lý: + Đồ bông vải sợi: gồm bông gạc, băng, quần áo cũ, khăn lau, vải trải. + Đồ giấy: hộp đựng dụng cụ, giấy gói, giấy thải từ nhà vệ sinh. 4 + Đồ thủy tinh: chai lọ, ống tiêm thủy tinh, ống nghiệm. + Đồ kim loại: kim tiêm, dao mổ, hộp đựng dụng cụ mổ.
+ Bệnh phẩm, máu mủ dính ở băng gạc. + Đồ nhựa: hộp đựng, bơm tiêm, dây truyền máu, túi đựng hàng. - Thành phần hóa học + Những chất vô cơ: kim loại, bột bó, chai lọ thủy tinh, sỏi đá, hóa chất. + Những chất hữu cơ: đồ vải sợi, giấy, bộ phận cơ thể, đồ nhựa.
+ Thành phần gồm các nguyên tố: C, H, O, N, S, Cl và một số phân tro. - Thành phần sinh học: máu, các loại dịch tiết, những động vật làm thí nghiệm, bệnh phẩm và các vi trùng gây bệnh. Thành phần chất thải rắn y tế ở Việt Nam [11] Tỷ lệ Thành phần STT Thành phần chất thải rắn y tế (%) chất nguy hại 1 Các chất hữu cơ 52,9 Không 2 Chai nhựa PVC, PE, PP 10,1 Có 3 Bông băng 8,8 Có 4 Vỏ hộp kim loại 2,9 Không 5 Chai lọ, xilanh, ống thuốc thủy tinh 2,3 Có 6 Kim tiêm, ống tiêm 0,9 Có 7 Giấy loại, cacton 0,8 Không 8 Các bệnh phẩm sau mổ 0,6 Có 9 Đất, cát, sành, sứ và các chất rắn khác 20,9 Không Tổng cộng 100 Tỷ lệ phần chất thải nguy hại 22,6 5 Theo Nguyễn Đức Khiển, thành phần chất thải rắn y tế gồm 09 loại cơ bản như trên trong đó tỷ lệ chất thải nguy hại chiến 22,6%. Tuy nhiên ¼ thành phần nhưng tính chất lại rất nguy hại với môi trường và sức khỏe con người nếu không được thu gom vận chuyển và xử lý theo quy định.
Theo kết quả điều tra trong dự án hợp tác giữa Bộ Y tế và tổ chức WHO thành phần một số chất thải ở bệnh viện Việt Nam như sau: Bảng 1. Thành phần chất thải rắn ở bệnh viện Việt Nam [4] STT Thành phần Tỷ lệ 1 Giấy các loại 3,0 2 Kim loại, vỏ hộp 0,7 3 Thủy tinh, ống tiêm, chai lọ thuốc, bơm kim tiêm 3,2 4 Bông băng, bột bó gãy chân 8,8 5 Chai, túi nhựa các loại 10,1 6 Bệnh phẩm 0,6 7 Rác hữu cơ 52,57 8 Đất đá và các vật rắn khác 21,03 1. Phân định chất thải rắn y tế nguy hại Căn cứ Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31/12/2015 quy định về quản lý chất thải y tế, chất thải y tế được phân thành 3 nhóm [16]: 1. Chất thải lây nhiễm - Chất thải lây nhiễm sắc nhọn là chất thải lây nhiễm có thể gây ra các vết cắt hoặc xuyên thủng bao gồm: kim tiêm, bơm liền kim tiêm; đầu sắc nhọn của dây truyền; kim chọc dò; kim châm cứu; lưỡi dao mổ; đinh, cưa dùng trong phẫu thuật và các vật sắc nhọn khác; 6 - Chất thải lẫy nhiễm không sắc nhọn bao gồm: chất thải thấm, dính, chứa máu hoặc dịch sinh học của cơ thể; các chất phát sinh từ buồng bệnh cách ly.
- Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao bao gồm: Mẫu bệnh phẩm, dụng cụ đựng, dính mẫu bệnh phẩm, chất thải dính mẫu bệnh phẩm phát sinh từ các phòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp III trở lên theo quy định tại Nghị định số 92/2010/NĐ-CP ngày 30 tháng 8 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm về bảo đảm an toàn sinh học tại phòng xét nghiệm; - Chất thải giải phẫu bao gồm: Mô, bộ phận cơ thể người thải bỏ và xác động vật thí nghiệm. Chất thải nguy hại không lây nhiễm - Hóa chất thải bỏ bao gồm hoặc có các thành phần nguy hại; - Dược phẩm thải bỏ thuộc nhóm gây độc tế bào hoặc có cảnh báo nguy hại từ nhà sản xuất; - Thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng thải bỏ có chứa thủy ngân và các kim loại nặng; - Chất hàn răng amalgam thải bỏ; - Chất thải nguy hại khác gồm: bóng đèn huỳnh quang thải bỏ; các loại dầu mỡ thải bỏ; pin, ắc quy thải bỏ; các thiết bị linh kiện điện tử thải hoặc các thiết bị điện (khác với các loại nêu tại mã 10 01 06, 16 01 12 của Thông tư 36/2015/TT-BTNMT) có các linh kiện điện tử (trừ bản mạch điện tử không chứa các chi tiết có các thành phần nguy hại vượt ngưỡng chất thải nguy hại) thải bỏ; Bao bì mềm, giẻ lau thải (từ quá trình sửa chữa, bảo dưỡng thiết bị nhiễm dầu mỡ, chứa các hóa chất độc hại) thải bỏ; Các chất thải là vỏ chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc thuộc nhóm gây độc tế bào hoặc có cảnh báo nguy hại từ nhà sản xuất; Chất hấp thụ, vật liệu lọc thải bỏ từ quá trình xử lý khí thải; Tro thải từ lò đốt chất thải rắn y tế; Bùn thải từ hệ thống xử lý nước thải y tế. Chất thải y tế thông thường - Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người và chất thải ngoại cảnh trong cơ sở y tế; - Chất thải rắn thông thường phát sinh từ cơ sở y tế không thuộc Danh mục chất thải y tế nguy hại hoặc thuộc Danh mục chất thải y tế nguy hại nhưng có yếu tố nguy hại dưới ngưỡng chất thải nguy hại; - Sản phẩm thải lỏng không nguy hại; 1. Tác hại của chất thải rắn y tế Rác thải y tế là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường và tác động xấu lên sức khoẻ con người.
Rác thải y tế là phế thải từ bệnh viện qua những dịch vụ y tế như chữa trị, mổ xẻ và thử nghiệm. Khi nhu cầu khám chữa bệnh của con người càng tăng thì rác thải y tế cũng không ngừng phát triển. Rác thải y tế thường mang mầm bệnh và có nguy cơ ảnh hưởng tới sức khỏe con người sống xung quanh bệnh viện, nếu không được xử lý [6]. Ảnh hưởng của chất thải y tế tới sức khỏe cộng đồng Ngày nay, các bệnh viện được cho là môi trường có nguy cơ rủi ro cho sức khỏe con người.
Chất thải y tế có thể gây ra nhiều tác động xấu tới sức khỏe con người như lây bệnh qua đường máu cho nhân viên y tế, đặc biệt là sự cố thương tích do chất thải sắc nhọn. Dạng phơi nhiễm nghề nghiệp phổ biến nhất qua đường máu cho nhân viên y tế trong quá trình thực hiện quản lý chất thải. - Ảnh hưởng của chất thải sắc nhọn Chất thải sắc nhọn được coi là loại chất thải nguy hiểm, có nguy cơ gây tổn thương kép tới sức khỏe con người nghĩa là vừa gây chấn thương do vết cắt, vết đâm và thông qua vết chấn thương để gây bệnh truyền nhiễm nếu trong chất thải có các mầm bệnh viêm gan B (HBV), viêm gan C (HCV) và virus HIV… - Ảnh hưởng của chất thải lây nhiễm Chất thải y tế lây nhiễm có chứa các vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm như tụ cầu, HIV, viêm gan B,… chúng có thể xâm nhập vào cơ thể người 8 thông qua các hình thức như: qua da (vết trầy xước, vết đâm xuyên hoặc vết cắt trên da); qua các niêm mạc (màng nhầy); qua đường hô hấp (do xông, hít phải); qua đường tiêu hóa (do nuốt, ăn phải). Việc quản lý chất thải y tế lẫy nhiễm không đúng cách còn có thể là nguyên nhân lây nhiễm bệnh cho con người thông qua môi trường trong bệnh viện.
Chẳng hạn một số người có khả năng bị lây nhiễm các bệnh mà họ không mắc phải trước khi đến bệnh viện, nhưng khi đến và làm việc trong bệnh viện, sau một thời gian bị mắc bệnh hoặc đem mầm bệnh đến nơi họ ở.