Đặt vấn đề; (ii) Mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu; (iii) Phạm vi giới hạn của nghiên cứu; và (iv) Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án. 6 Chương 2: Tổng quan tài liệu. Chương này bao gồm các lược khảo về (i) Quản lý chất lượng nông sản theo chuỗi cung ứng; (ii) Các nghiên cứu về chuỗi cung ứng; (iii) Tổng quan chuỗi cung ứng lúa gạo TN vùng ĐBSCL; Và (iv) Khung nghiên cứu. Chương 3: Cơ sở lý luận và Phương pháp nghiên cứu.
Các nội dung chính được trình bày trong chương 3 liên quan đến các khái niệm, phương pháp nghiên cứu, phương pháp phân tích số liệu và khung phân tích luận án. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Các nội dung của chương 4 bao gồm (i) Phân tích thực trạng chất lượng lúa gạo TN vùng ĐBSCL; (ii) Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng lúa gạo TN theo chuỗi cung ứng; (iii) Phân tích ảnh hưởng của hoạt động quản lý chất lượng cũng như quản lý Nhà nước đến chất lượng lúa gạo TN theo chuỗi cung ứng; Và (v) Giải pháp quản lý nâng cao chất lượng lúa gạo TN theo chuỗi cung ứng. Chương 5: Kết luận và kiến nghị.
Chương này tóm lược các kết quả nghiên cứu theo mục tiêu, câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu. Bên cạnh đó, nhiều kiến nghị cũng được đề xuất đến các đối tượng, các bên có liên quan trong chuỗi để nâng cao chất lượng lúa gạo TN vùng đồng bằng sông Cửu Long. *** 7 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 2 trình bày bối cảnh lý thuyết, bối cảnh nghiên cứu và chuỗi cung ứng lúa gạo TN vùng ĐBSCL có liên quan đến nội dung luận án. Trong đó, hệ thống lý thuyết bao gồm các vấn đề về chất lượng, quản lý chất lượng, chuỗi cung ứng, quản lý chuỗi cung ứng và quản lý chất lượng theo chuỗi cung ứng; các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan; thực trạng chuỗi cung ứng lúa gạo TN và khung nghiên cứu của luận án cũng được đề cập trong phần cuối của chương này.1 Bối cảnh lý thuyết 2.1 Khái niệm về chất lượng Mặc dù thuật ngữ chất lượng được sử dụng khá rộng rãi nhưng hiện nay vẫn chưa có sự thống nhất nào về định nghĩa cho khái niệm này vì các định nghĩa khác nhau về chất lượng sẽ phù hợp trong các trường hợp khác nhau (Russell và Miles, 1998; Beaumont và Sohal, 1999; Sebastianelli và Tamimi, 2002; Ojasalo, 2006; Sower, 2012; Diaz, 2014).
Thật vậy, chất lượng qua thời gian đã được định nghĩa: là sự tuân thủ các thông số kỹ thuật (Levitt, 1972), là giá trị (Feigenbaum, 1951), là phù hợp để sử dụng (Juran, 1974), là sự thỏa mãn các yêu cầu (Crosby, 1979), là xuất sắc (Tuchman, 1980), là sự đạt được các thuộc tính mong muốn của sản phẩm (Leffler, 1982), là tránh mất mát (Taguchi, 1987), đáp ứng mong đợi của khách hàng (Ryall và Kruithof, 2001; ISO 9000, 2005) và là công cụ để so sánh với hàng hóa hay dịch vụ cùng loại (Diaz, 2014). Một định nghĩa về chất lượng được chấp nhận rộng rãi không tồn tại vì nhiều lý do. Chẳng hạn như các định nghĩa rộng về chất lượng như đáp ứng mong đợi khách hàng hay xuất sắc rất khó để vận dụng. Trong khi đó, các định nghĩa hẹp (ví dụ: tuân thủ các thông số kỹ thuật, tránh mất mát) lại không đủ toàn diện để truyền tải được sự phong phú và phức tạp của khái niệm (Reeves và Bednar, 1995).
Tuy nhiên, Garvin (1984) đã mô tả năm phương pháp tiếp cận cơ bản cho định nghĩa chất lượng bao gồm: phương pháp siêu việt, phương pháp dựa trên sản phẩm, phương pháp dựa trên sản xuất, phương pháp dựa trên giá trị và phương pháp dựa trên người tiêu dùng. Những cách tiếp cận này đã được điều chỉnh, cải tiến và mở rộng trong toàn bộ tài liệu để định nghĩa chất lượng. Các phương pháp tiếp cận này cũng được đề cập bởi nhiều tác giả khác nhau sau nhiều thập kỷ (Forker, 1991; Reeves và Bednar, 1994; Seawright và Young, 1996; Russell và Miles, 1998; Fynes và 8 Voss, 2001; Sebastianelli và Tamimi, 2002; Sousa và Voss 2002; Ojasalo, 2006; Zu và cộng sự, 2008; Kondasani và cộng sự, 2019; và Goplakrishnan và cộng sự, 2019). Một định nghĩa về chất lượng được sử dụng rộng rãi do Juran và Godfrey (1999) giới thiệu đó là đáp ứng tất cả các điều kiện, trong đó chất lượng được định nghĩa là phù hợp cho sử dụng và đáp ứng các yêu cầu của khách hàng.
Ngoài ra, Diaz (2014) cũng định nghĩa chất lượng của một hàng hóa dịch vụ tốt là sự nhận thức của khách hàng về sản phẩm, dịch vụ đó có khả năng đáp ứng được nhu cầu cầu của họ. Tuy nhiên, giá sản phẩm, dịch vụ có thể ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của khách hàng (Sebastianelli và Tamimi, 2002). Vì lý do này, định nghĩa về chất lượng của Broh (1982), Ishikawa và Lu (1985) đã tinh chỉnh định nghĩa về chất lượng của Juran (1951) là phù hợp để sử dụng với mức giá chấp nhận được (cách tiếp cận dựa trên giá trị). Sửa đổi trên đã củng cố định nghĩa về chất lượng của Juran (1951), nhưng đó vẫn là định nghĩa chưa phù hợp về chất lượng vì các yêu cầu của khách hàng liên tục thay đổi (Chacko, 1998; Bowie và cộng sự, 2016) và những gì khách hàng yêu cầu hôm nay không phải là những gì họ yêu cầu ngày hôm qua và sẽ không phải là những gì họ sẽ yêu cầu vào ngày mai (Kano và cộng sự, 1984; Hoyle, 2007).
Theo nghĩa đó, bất kỳ nỗ lực nào để đưa ra định nghĩa về chất lượng nên xem xét liên tục các yêu cầu của khách hàng (Hoyle, 2007). Kết quả là nhiều định nghĩa về chất lượng trước đây như các định nghĩa về chất lượng được đề xuất bởi Oakland (2003), ISO 9000 (2005), Kemp (2006), Nelsen và Daniels (2007) dường như không phù hợp và chưa hoàn chỉnh vì họ bỏ qua việc xem xét liên tục các yêu cầu của khách hàng. Với suy nghĩ này, thuật ngữ chất lượng cần phải được xác định không chỉ liên quan đến yêu cầu của khách hàng mà còn với các bên liên quan khác - Yêu cầu của cộng đồng (Hoyle, 2007). Tóm lại, chất lượng được khẳng định bởi nhiều tác giả ở nhiều khía cạnh khác nhau, để mọi định nghĩa về chất lượng có hiệu lực, nó phải bao hàm ý nghĩa của việc tuân thủ các thông số kỹ thuật nội bộ (Shewhart, 1931) được xác định trước và theo yêu cầu của khách hàng (Crosby, 1979), và đáp ứng các yêu cầu thay đổi liên tục của cả khách hàng/tổ chức (Bowie và cộng sự, 2016) và các bên liên quan (Hoyle, 2007).2 Chất lượng sản phẩm Chất lượng sản phẩm là các thuộc tính sản phẩm phù hợp với tám thành phần cụ thể là hiệu suất, tính năng, sự phù hợp, độ tin cậy, độ bền, khả năng phục vụ, tính thẩm mỹ và chất lượng cảm nhận của khách hàng.
Hiệu suất là đặc tính vận hành chính của sản phẩm; các tính năng bổ sung cho sản phẩm; 9 sự phù hợp thể hiện mức độ thiết kế của sản phẩm và các tính năng vận hành của sản phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn đã thiết lập; độ tin cậy xác định xác suất của sản phẩm sẽ hoạt động đúng trong một khoảng thời gian cụ thể theo điều kiện sử dụng đã công bố; độ bền là độ dài sử dụng sản phẩm trước khi sản phẩm xuống cấp hoặc cho đến khi cần thay thế và khả năng bảo trì để cho thấy uy tín của công ty (Garvin, 1988). Cách tiếp cận chất lượng dựa trên sản phẩm phụ thuộc nguồn gốc kinh tế của nó mà sự khác biệt của các yếu tố hoặc thuộc tính sản phẩm được coi là phản ánh sự khác biệt về chất lượng (Garvin, 1984). Cách tiếp cận dựa trên người dùng là nơi chất lượng sản phẩm và dịch vụ đáp ứng hoặc vượt qua sự mong đợi của khách hàng. Chất lượng có hai phần là chất lượng thiết kế và chất lượng tuân thủ.
Trong đó, chất lượng thiết kế là mang đến sự hài lòng cho khách hàng dựa trên việc thiết kế sản phẩm đáp ứng được nhu cầu của họ (Ryding và cộng sự, 2015). Đối với phương pháp tiếp cận dựa trên sản xuất, do nó có nguồn gốc từ vận hành và quản lý sản xuất nên chất lượng được xem là sự phù hợp với đặc điểm kỹ thuật. Mức độ sản phẩm đáp ứng chỉ định tiêu chuẩn nhất định được gọi là chất lượng của sự phù hợp (Ryding và cộng sự, 2015) - tập trung bên trong trái với trọng tâm bên ngoài của chất lượng, tiếp cận dựa trên người dùng và chất lượng đang được phản ánh trong kết quả của kỹ thuật và quy trình sản xuất (Crosby, 1979). Cụ thể hơn, trong sản xuất, chất lượng là thước đo sự ưu việt của sản phẩm, không bị lỗi, thiếu sót về kỹ thuật hay khác biệt lớn so với tiêu chuẩn (Diaz, 2014).
Cuối cùng, phương pháp tiếp cận dựa trên giá trị so sánh chất lượng giữa hiệu suất ở mức giá thỏa đáng hoặc sự phù hợp ở mức giá phải chăng khi người tiêu dùng sử dụng giá làm thước đo cho chất lượng (Feigenbaum, 1983). Bên cạnh đó, chất lượng được đặt ở mức cao từ sản phẩm hoặc dịch vụ, nó mở rộng danh tiếng, tăng tỷ lệ giữ chân khách hàng, thu hút khách hàng từ truyền miệng và giúp tăng hiệu quả tài chính cũng như lợi nhuận (Julian và Ramaseshan, 1994; Zeithaml và Bitner, 2005; Ali, 2020). Theo cách tiếp cận dựa trên giá trị, chất lượng được xác định là sản phẩm hoặc dịch vụ đáp ứng nhu cầu và mong muốn hoặc mong đợi của người tiêu dùng. Chất lượng của thiết kế và chất lượng của sự phù hợp đóng vai trò trung tâm, chiến lược trong tầm quan trọng của quản lý chất lượng(Roselli và Pietro, 2012).
Chất lượng thiết kế được sử dụng để giải quyết chất lượng sản phẩm theo thiết kế được chỉ định và đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng (Juran, 1974). Chất lượng sản phẩm góp phần mở rộng lợi thế cạnh tranh trong khi sản phẩm được thiết kế và sản xuất để đạt được yêu cầu của khách hàng trong việc nâng cao hiệu suất sản phẩm (Benson và cộng sự, 1991; Flynn và cộng sự, 10 1994, Hoe và Mansori, 2018). Có rất nhiều tính năng của sản phẩm được sử dụng để đánh giá chất lượng của sản phẩm đó. Trong đó, các thuộc tính phổ biến nhất là các yếu tố kỹ thuật, thực dụng, thẩm mỹ, kinh tế, công thái học, sinh thái và hậu cần (Gruszka và Gašpar, 2018).