Tổng quan luận án
Đề tài "Quản lý chất lượng sản phẩm lúa gạo Tài Nguyên theo chuỗi cung ứng" do nghiên cứu sinh Tất Duyên Thư thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Võ Thị Thanh Lộc, bảo vệ tại Trường Đại học Cần Thơ năm 2020, thuộc chuyên ngành Quản trị kinh doanh (mã số: 62 34 01 02).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Lúa mùa Tài Nguyên là giống lúa đặc sản truyền thống của vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), được canh tác 1 vụ/năm theo quang kỳ (kéo dài 6 tháng) tại các vùng sinh thái nước lợ thuộc 5 tỉnh: Long An, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Trà Vinh. Trước năm 2009, gạo Tài Nguyên được thị trường nội địa ưa chuộng nhờ đặc tính hạt nhuyễn, màu đục như sữa, khi nấu cho cơm nở xốp, mềm, ngọt và thơm. Tuy nhiên, từ sau năm 2009, chất lượng gạo Tài Nguyên suy giảm nghiêm trọng: hạt gạo trong hơn, cơm khô cứng khi để nguội hoặc để qua đêm, mất đi độ tơi xốp và mùi vị đặc trưng.
Thực trạng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân dọc theo các khâu của chuỗi cung ứng:
- Trong khâu sản xuất: Nông dân lạm dụng phân bón hóa học và sử dụng thuốc ức chế sinh trưởng chứa hoạt chất Paclobutrazol nhằm chống đổ ngã và tăng năng suất, khiến chu kỳ sinh trưởng bị rút ngắn từ 6 tháng xuống còn 4,5 tháng; cùng với đó là sự suy giảm chất lượng nguồn nước lợ do ô nhiễm và các công trình ngăn mặn.
- Trong khâu bảo quản, chế biến và tiêu thụ: Tình trạng thiếu liên kết thu mua, công nghệ sấy và xay xát chưa phù hợp, hiện tượng doanh nghiệp và thương lái chủ động đấu trộn gạo Tài Nguyên với gạo Sóc Miên (nhập từ Campuchia có hình thức tương tự nhưng chất lượng kém hơn) hoặc người tiêu dùng tự phối trộn với các giống gạo mềm khác (như OM4900, Nàng Hoa, Một Bụi, RVT, ST).
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là việc thiếu vắng các công trình nghiên cứu hệ thống kết hợp giữa lý thuyết quản lý chất lượng và quản trị chuỗi cung ứng nông sản (Agri-food Supply Chain Quality Management - ASCQM) đối với sản phẩm lúa gạo Tài Nguyên tại ĐBSCL, nhằm chỉ ra căn nguyên suy giảm chất lượng từ khâu sản xuất, chế biến, bảo quản đến phân phối tiêu thụ.
Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu chung: Nghiên cứu và đề xuất giải pháp quản lý chất lượng lúa gạo Tài Nguyên theo chuỗi cung ứng nhằm giúp các tác nhân tham gia chuỗi và cơ quan quản lý nhà nước có cơ sở hoạch định, kiểm soát chất lượng, đáp ứng yêu cầu của thị trường nội địa và xuất khẩu.
- Mục tiêu cụ thể:
- Phân tích thực trạng chất lượng lúa gạo Tài Nguyên theo chuỗi cung ứng vùng ĐBSCL.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng lúa gạo Tài Nguyên theo từng khâu trong chuỗi cung ứng (khâu sản xuất, bảo quản - chế biến và tiêu thụ).
- Phân tích tác động của hoạt động quản lý chất lượng và công tác quản lý nhà nước đến chất lượng lúa gạo Tài Nguyên theo chuỗi cung ứng.
- Đề xuất hệ thống giải pháp quản lý chất lượng lúa gạo Tài Nguyên theo chuỗi cung ứng nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường.
Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
- Câu hỏi nghiên cứu:
- Câu hỏi 1: Nguyên nhân chất lượng lúa gạo Tài Nguyên vùng ĐBSCL thay đổi ở thời điểm nghiên cứu so với trước năm 2009 dọc theo chuỗi cung ứng là gì? Các vấn đề liên quan trong từng khâu thể hiện như thế nào?
- Câu hỏi 2: Đặc điểm của chuỗi cung ứng lúa gạo Tài Nguyên hiện nay tạo nên những thuận lợi và khó khăn gì trong quản lý chất lượng? Các yếu tố nào trong khâu sản xuất, bảo quản, chế biến và tiêu thụ ảnh hưởng đến chất lượng lúa gạo?
- Câu hỏi 3: Hoạt động quản lý chất lượng của các tác nhân và các yếu tố quản lý nhà nước ảnh hưởng như thế nào đến chất lượng lúa gạo Tài Nguyên theo chuỗi cung ứng?
- Các giả thuyết nghiên cứu:
- Giả thuyết 1: Chất lượng lúa gạo Tài Nguyên vùng ĐBSCL đang trong tình trạng suy giảm nghiêm trọng so với trước năm 2009.
- Giả thuyết 2: Các yếu tố thuộc các khâu sản xuất, bảo quản và chế biến, tiêu thụ, cùng các hoạt động quản lý chất lượng và quản lý nhà nước có tác động có ý nghĩa thống kê đến chất lượng lúa gạo Tài Nguyên theo chuỗi cung ứng.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng lúa gạo Tài Nguyên và hoạt động quản lý chất lượng lúa gạo Tài Nguyên theo chuỗi cung ứng.
- Đối tượng khảo sát: Nông hộ trồng lúa Tài Nguyên, thương lái (hàng xáo), nhà máy xay xát, doanh nghiệp/công ty lương thực, đại lý bán buôn/bán lẻ, người tiêu dùng nội địa, chuyên gia nông nghiệp và cán bộ quản lý địa phương.
- Phạm vi không gian: Tập trung chính tại hai tỉnh có diện tích, sản lượng và vùng chuyên canh lúa Tài Nguyên lớn nhất ĐBSCL là Sóc Trăng (trọng tâm là huyện Thạnh Trị) và Long An (trọng tâm là huyện Cần Đước); kết hợp nghiên cứu điển hình (case study) mô hình sản xuất 6 tháng không dùng chất ức chế sinh trưởng tại tỉnh Cà Mau; đồng thời khảo sát các tác nhân thương mại ở Cần Thơ, Tiền Giang và Trà Vinh theo phương pháp liên kết chuỗi.
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu sơ cấp được thu thập qua 2 đợt: đợt 1 từ tháng 11/2014 đến tháng 10/2015; đợt 2 thu thập thông tin cập nhật bổ sung vào tháng 9/2018.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm trước đây
Luận án đã tổng thuật hệ thống tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước xoay quanh các chủ đề cốt lõi:
- Lý thuyết chất lượng và quản lý chất lượng: Điểm lại các quan điểm tiếp cận chất lượng của Levitt (1972), Juran (1974), Crosby (1979), Garvin (1984, 1988), Feigenbaum (1983), Deming (1986), Ishikawa (1990) và hệ thống tiêu chuẩn ISO 9000. Chất lượng nông sản được nhìn nhận qua các thuộc tính cảm quan, dinh dưỡng, an toàn và giá trị sử dụng (Tzia và cộng sự, 2015; Migliore và cộng sự, 2015).
- Quản lý chuỗi cung ứng (SCM) và chuỗi cung ứng nông sản (AFSC): Luận án kế thừa các nghiên cứu của Lambert, Stock và Ellram (1998), Mentzer và cộng sự (2001), Christopher (2010), Van der Vorst (2006, 2007), Jaffee và cộng sự (2010), Iakovou và cộng sự (2012) về cấu trúc mạng lưới, dòng chảy xuôi (sản phẩm, dịch vụ) và dòng chảy ngược (thông tin, yêu cầu thị trường).
- Quản lý chất lượng chuỗi cung ứng (SCQM): Tiếp cận theo định nghĩa của Kuei và Madu (2001), Robinson và Malhotra (2005), Benaissa và cộng sự (2010), Chibba (2017) về sự tích hợp các quy trình kinh doanh nội bộ và bên ngoài giữa các thành viên trong chuỗi.
- Các nghiên cứu thực nghiệm ngành hàng nông sản:
- Quốc tế: Cunningham (2001), Shukla và Jharkharia (2013) tổng quan về tính rời rạc và kém hiệu quả của chuỗi cung ứng nông sản; Batt (2003) nghiên cứu chuỗi khoai tây tại Việt Nam bằng phân tích ANOVA; Vasileiou và Morris (2006), Moazzem và Fujita (2004), Hellin và Meijer (2006), Ganeshkumar và cộng sự (2017) phân tích các rào cản kỹ thuật, liên kết và tổn thất sau thu hoạch.
- Trong nước: Các công trình về chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng lúa gạo ĐBSCL của Võ Thị Thanh Lộc và Nguyễn Phú Son (2011, 2013); nghiên cứu về hạn chế logistics và mắt xích trung gian của Võ Văn Thanh, Lê Ngọc Quỳnh Lam và Nguyễn Thị Kim Pho (2015).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Phần lớn các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam tiếp cận lúa gạo dưới góc độ chuỗi giá trị thương mại thông thường (phân tích chi phí - lợi nhuận, kênh phân phối) hoặc phân tích kỹ thuật canh tác đơn lẻ. Luận án của Tất Duyên Thư lựa chọn giải quyết khoảng trống: Tích hợp mô hình quản trị chất lượng chuỗi cung ứng (ASCQM) vào một giống lúa mùa đặc sản cụ thể (lúa Tài Nguyên), đánh giá sự biến đổi chất lượng từ khâu sản xuất, sau thu hoạch (bảo quản, chế biến) đến phân phối thương mại, đồng thời định lượng hóa tác động của các hoạt động quản lý nội bộ chuỗi và can thiệp quản lý nhà nước đến chất lượng sản phẩm.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
Luận án xây dựng khung nghiên cứu dựa trên mô hình kết hợp hai dòng chảy của Võ Thị Thanh Lộc và Nguyễn Phú Son (2013): dòng chảy xuôi (quản trị chuỗi cung ứng hiệu quả từ đầu vào đến đầu ra) và dòng chảy ngược (quản lý chất lượng và số lượng xuất phát từ yêu cầu thị trường tiêu dùng). Luận án kết hợp các mô hình quản lý chất lượng như PDCA (Deming, 1986), TQM (Feigenbaum, 1983), hệ thống JIT (Just In Time) để đo lường thời gian nhàn rỗi (idle time) gây ảnh hưởng đến chất lượng gạo, cùng các tiêu chuẩn đo lường hàm lượng amyloza trong phân tích hóa tính hạt gạo.
+-----------------------------------------------------------------------------------+
| YÊU CẦU THỊ TRƯỜNG VỀ CHẤT LƯỢNG (DÒNG CHẢY NGƯỢC) |
+-----------------------------------------------------------------------------------+
+---------------------+ +---------------------+ +---------------------+
| KHÂU SẢN XUẤT | ---> | BẢO QUẢN & CHẾ BIẾN | ---> | KHÂU TIÊU THỤ |
| - Giống phục tráng | | - Thời gian trữ lúa | | - Đấu trộn gạo |
| - Nước lợ/ngăn mặn | | - Công nghệ sấy | | - Kênh phân phối |
| - Paclobutrazol | | - Công nghệ xay xát | | - Nhãn hiệu |
| - Phân bón hóa học | | - Thời gian trữ gạo | | - Hành vi tiêu dùng |
+---------------------+ +---------------------+ +---------------------+
+-----------------------------------------------------------------------------------+
| CÁC YẾU TỐ QUẢN LÝ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG GẠO TÀI NGUYÊN: |
| 1. Hoạt động quản lý chất lượng (Hoạch định, Kiểm tra, Đảm bảo, Cải tiến) |
| 2. Quản lý Nhà nước (Hỗ trợ nghiên cứu, Giống, Vốn, Thương hiệu, Thị trường...) |
+-----------------------------------------------------------------------------------+
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp (kết hợp định tính và định lượng):
| Phương pháp |
Công cụ và Kỹ thuật cụ thể |
Mục đích áp dụng |
| Định tính |
- Đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) - Phỏng vấn sâu chuyên gia và nhà quản lý - Phỏng vấn theo liên kết chuỗi (ValueLinks - GTZ, 2007) - Nghiên cứu trường hợp điển hình (Case study tại Cà Mau) |
Nhận diện các thuộc tính chất lượng, xác định mắt xích chuỗi, tìm ra nguyên nhân ban đầu gây suy giảm chất lượng và xây dựng thang đo khảo sát. |
| Định lượng |
- Thống kê mô tả, phân tích kinh tế (lợi ích - chi phí) - Thử nghiệm trong phòng thí nghiệm (đo hàm lượng amyloza) - Tính thời gian nhàn rỗi (idle time) theo JIT - Kiểm định trung bình từng cặp (Paired-sample t-test) - Phân tích nhân tố khám phá (EFA) và khẳng định (CFA) - Hồi quy nhị phân (Binary Logistic) và hồi quy tuyến tính đa biến |
Đo lường mức độ thay đổi chất lượng giữa hai thời kỳ; kiểm định độ tin cậy thang đo quản lý chất lượng và quản lý nhà nước; xác định mức độ tác động của các yếu tố kỹ thuật, quản lý đến chất lượng lúa gạo. |
Dữ liệu và cỡ mẫu nghiên cứu
Tổng cỡ mẫu sơ cấp của luận án là 577 quan sát, phân bổ theo các tác nhân trong chuỗi cung ứng lúa gạo Tài Nguyên tại ĐBSCL:
- Nông dân trồng lúa Tài Nguyên: Khảo sát trực tiếp tại huyện Thạnh Trị (Sóc Trăng) và huyện Cần Đước (Long An).
- Tác nhân thương mại và dịch vụ: Thương lái thu gom, chủ nhà máy xay xát, doanh nghiệp chế biến/xuất khẩu lương thực, đại lý bán buôn và cửa hàng bán lẻ gạo tại Long An, Sóc Trăng, Cần Thơ, Tiền Giang, Trà Vinh.
- Người tiêu dùng gạo Tài Nguyên: Khảo sát tại các đô thị và thị trường tiêu thụ nội địa.
- Cán bộ quản lý và chuyên gia: Đại diện Sở NN&PTNT, Trung tâm Khuyến nông các tỉnh, phòng nông nghiệp cấp huyện và các nhà khoa học nông nghiệp.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Giới thiệu
Chương này thiết lập cơ sở khoa học của đề tài thông qua việc đặt vấn đề về vị thế của ngành lúa gạo Việt Nam và thực trạng suy thoái chất lượng của giống lúa mùa đặc sản Tài Nguyên sau năm 2009. Tác giả xác định hệ thống 4 mục tiêu cụ thể, 3 câu hỏi nghiên cứu và 2 giả thuyết nghiên cứu chính. Chương 1 cũng xác định rõ giới hạn nghiên cứu: do cơ sở dữ liệu giữa 3 khâu (sản xuất, chế biến - bảo quản, tiêu thụ) không đồng nhất về thang đo của các biến phụ thuộc và độc lập nên mục tiêu phân tích các yếu tố ảnh hưởng ở Mục tiêu 2 dừng lại ở việc ước lượng mô hình hồi quy đa biến cho từng khâu riêng biệt, không thể áp dụng chung một mô hình cấu trúc CFA cho cả 3 khâu.
Chương 2: Tổng quan tài liệu và cơ sở lý thuyết
Chương 2 hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý chất lượng, chuỗi cung ứng, quản trị chuỗi cung ứng và sự giao thoa trong quản lý chất lượng chuỗi cung ứng nông sản (ASCQM). Tác giả tổng thuật các công trình nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam về chuỗi cung ứng thực phẩm, phân tích thực trạng vùng sản xuất lúa Tài Nguyên qua các mốc thời gian (2010–2014 và 2015–2018) tại hai địa bàn trọng điểm là Thạnh Trị (Sóc Trăng) và Cần Đước (Long An). Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng sơ đồ chuỗi cung ứng gạo Tài Nguyên ĐBSCL và đề xuất khung nghiên cứu lý thuyết của luận án.
Chương 3: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Nội dung chương 3 làm rõ các khái niệm về thuộc tính chất lượng lúa gạo (hóa tính, cơ lý tính, cảm quan), kinh nghiệm đo lường chất lượng gạo tại một số quốc gia và cách tiếp cận chất lượng theo định hướng thị trường tiêu dùng. Tác giả chi tiết hóa thiết kế nghiên cứu, phương pháp chọn mẫu khảo sát (577 quan sát), quy trình thu thập dữ liệu sơ cấp và thứ cấp. Chương này trình bày chi tiết hệ thống thang đo và các mô hình phân tích:
- Bảng câu hỏi đánh giá thuộc tính chất lượng trước 2009 và năm 2014.
- Thang đo các yếu tố kỹ thuật trong 3 khâu: sản xuất (Bảng 3.3), bảo quản - chế biến (Bảng 3.4), tiêu thụ (Bảng 3.5).
- Thang đo hoạt động quản lý chất lượng nội bộ chuỗi (Bảng 3.6 và 3.7) và thang đo hoạt động quản lý nhà nước (Bảng 3.8 và 3.9).
- Quy trình phân tích định lượng kết hợp EFA, CFA, hồi quy OLS và kiểm định vi phạm giả định hồi quy (đa cộng tuyến, phương sai sai số thay đổi).
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 4 là chương trọng tâm của luận án, trình bày toàn bộ kết quả phân tích thực nghiệm:
- Đánh giá sự thay đổi chất lượng gạo Tài Nguyên: Kiểm định Paired-sample t-test và khảo sát cảm quan người tiêu dùng xác nhận chất lượng gạo năm 2014 suy giảm rõ rệt so với trước 2009 (cơm cứng hơn, giảm độ xốp, mất mùi thơm). Kết quả kiểm nghiệm hóa tính cho thấy sự biến động về hàm lượng amyloza giữa giống nguyên thủy và sau khi phục tráng.
- Các yếu tố ảnh hưởng trong từng khâu:
- Khâu sản xuất: Kết quả hồi quy chỉ ra việc sử dụng phân hóa học, nguồn nước lợ bị thay đổi và đặc biệt là việc phun thuốc ức chế sinh trưởng Paclobutrazol để ép ngắn thời gian sinh trưởng làm suy giảm đáng kể phẩm chất gạo.
- Khâu bảo quản và chế biến: Thời gian tồn trữ lúa trước khi sấy, công nghệ lò sấy thủ công, thiết bị xay xát lạc hậu và thời gian lưu kho gạo sau xay xát tác động tiêu cực đến độ gãy nát và độ thơm ngon của hạt gạo.
- Khâu tiêu thụ: Hành vi đấu trộn gạo kém phẩm chất (như gạo Sóc Miên) của các nhà máy, thương lái và sự phối trộn với các giống gạo khác tại điểm bán lẻ làm xói mòn uy tín thương hiệu.
- Phân tích hoạt động quản lý chất lượng và quản lý nhà nước: Phân tích EFA và CFA khẳng định vai trò của 2 yếu tố quản lý chất lượng nội bộ cốt lõi xuyên suốt cả 3 khâu là Hoạch định chất lượng và Kiểm tra chất lượng. Đồng thời, 8 nhóm yếu tố quản lý nhà nước (nghiên cứu khoa học, hỗ trợ kỹ thuật, vốn, thương hiệu, thị trường, cơ sở hạ tầng...) có tác động tích cực đến việc duy trì phẩm cấp gạo Tài Nguyên.
- Phân tích thời gian nhàn rỗi (JIT) và liên kết chuỗi: Thời gian chờ đợi giữa các khâu thu hoạch, sấy, xay xát và lưu kho kéo dài làm gia tăng chi phí và suy giảm chất lượng. Mối liên kết giữa nông dân (THT/HTX) với doanh nghiệp còn lỏng lẻo, hợp đồng thiếu tính ràng buộc.
+------------------------------------------------------------------------------------+
| MỨC ĐỘ THAY ĐỔI CHẤT LƯỢNG GẠO TÀI NGUYÊN (TRƯỚC 2009 VS 2014) |
+------------------------------------+-----------------------------------------------+
| Giai đoạn trước năm 2009 | Giai đoạn năm 2014 |
+------------------------------------+-----------------------------------------------+
| - Hạt gạo nhuyễn, màu đục như sữa | - Hạt gạo trong hơn, mất độ đục đặc trưng |
| - Cơm chín nở xốp, mềm cơm | - Cơm khô, cứng cơm khi để nguội |
| - Có vị ngọt đậm và mùi thơm tự nhiên| - Mất mùi thơm, giảm vị ngọt, cơm cứng qua đêm|
| - Canh tác đủ 6 tháng theo mùa vụ | - Bị rút ngắn còn 4,5 tháng (dùng hóa chất) |
+------------------------------------+-----------------------------------------------+
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Tổng hợp toàn bộ các kết luận rút ra từ các mục tiêu nghiên cứu, khẳng định hai giả thuyết nghiên cứu đặt ra ban đầu được chấp nhận. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra các kiến nghị cụ thể đối với cơ quan quản lý nhà nước và các tác nhân trực tiếp tham gia chuỗi cung ứng.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học
- Luận án là công trình tiên phong tại vùng ĐBSCL ứng dụng khung lý thuyết quản trị chất lượng chuỗi cung ứng nông sản (ASCQM) vào ngành hàng lúa gạo đặc sản Tài Nguyên.
- Tác giả đã tích hợp thành công mô hình hai dòng chảy (dòng chảy xuôi về quản trị logistics - vận hành và dòng chảy ngược về yêu cầu chất lượng thị trường) kết hợp với nguyên lý Just In Time (JIT) để lượng hóa tác động của thời gian nhàn rỗi lên chất lượng nông sản sau thu hoạch.
- Xây dựng và kiểm định độ tin cậy của bộ thang đo lường hoạt động quản lý chất lượng và quản lý nhà nước đối với chuỗi cung ứng nông sản trong điều kiện kinh tế nông nghiệp Việt Nam.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Cung cấp bức tranh thực chứng toàn diện về nguyên nhân suy giảm chất lượng gạo Tài Nguyên dọc theo toàn bộ chuỗi giá trị, bác bỏ quan điểm cho rằng chất lượng suy giảm chỉ do một khâu duy nhất.
- Đưa ra bằng chứng khoa học khẳng định tác hại của chất ức chế sinh trưởng Paclobutrazol và việc rút ngắn chu kỳ canh tác từ 6 tháng xuống 4,5 tháng đối với chất lượng hạt gạo.
- Chỉ rõ thực trạng gian lận thương mại và đấu trộn gạo ngoại nhập (gạo Sóc Miên) tại các nhà máy chế biến và đại lý phân phối.
Các giải pháp và kiến nghị quản lý đề xuất
- Đối với cơ quan quản lý Nhà nước:
- Hoàn thiện chính sách hỗ trợ phục tráng giống lúa mùa Tài Nguyên thuần chủng; tiến hành nghiên cứu thổ nhưỡng và quy hoạch vùng trồng nước lợ thích hợp.
- Thử nghiệm và ban hành quy trình kỹ thuật canh tác chuẩn có đối chứng (vụ mùa 6 tháng, hạn chế phân đạm, tuyệt đối không dùng chất ức chế sinh trưởng).
- Tăng cường thanh tra, kiểm soát thị trường nhằm ngăn chặn hành vi đấu trộn gạo kém phẩm chất và mạo danh thương hiệu "Gạo Tài Nguyên Châu Hưng" hay "Tài Nguyên Chợ Đào".
- Hỗ trợ nguồn vốn ưu đãi để các nhà máy nâng cấp công nghệ sấy và xay xát; đầu tư hoàn thiện cơ sở hạ tầng giao thông - thủy lợi nông thôn.
- Đối với các tác nhân trong chuỗi cung ứng:
- Nông dân: Tham gia liên kết ngang trong các Tổ hợp tác (THT) và Hợp tác xã (HTX); cam kết tuân thủ quy trình sản xuất an toàn 6 tháng, không dùng thuốc ức chế sinh trưởng; bầu chọn ban lãnh đạo HTX có năng lực thương thảo hợp đồng.
- Nhà máy xay xát và doanh nghiệp: Đầu tư cải tiến công nghệ sấy tầng sôi/sấy tháp, thay thế dàn máy xay xát cũ; thực hiện kế hoạch dự trữ ngắn hạn khoa học để giảm thiểu thời gian nhàn rỗi (idle time); duy trì đạo đức kinh doanh, ký kết hợp đồng bao tiêu dài hạn có trách nhiệm với nông dân.
- Hệ thống bán lẻ: Minh bạch thông tin nguồn gốc sản phẩm, chấm dứt việc tự ý đấu trộn gạo khi chưa có sự đồng thuận của người tiêu dùng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án
- Cơ sở dữ liệu khảo sát ở 3 khâu (sản xuất, bảo quản - chế biến, tiêu thụ) có sự khác biệt về tính chất sản phẩm và thang đo giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc, do đó nghiên cứu chưa thể áp dụng mô hình phân tích nhân tố khẳng định (CFA) đồng thời cho toàn bộ 3 khâu trong Mục tiêu 2, mà phải sử dụng các mô hình hồi quy đa biến riêng lẻ cho từng khâu.
- Dữ liệu khảo sát sơ cấp tập trung trọng điểm tại hai tỉnh đại diện là Sóc Trăng và Long An, chưa thể mở rộng điều tra toàn diện mẫu nông hộ tại tất cả 5 tỉnh có canh tác lúa Tài Nguyên ở ĐBSCL.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Chuẩn hóa bộ tiêu chí và thang đo đồng nhất xuyên suốt các tác nhân để có thể xây dựng mô hình phương trình cấu trúc (SEM/CFA) tích hợp toàn diện chất lượng của toàn bộ chuỗi cung ứng lúa gạo trong một mô hình duy nhất.
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu thực nghiệm sang các giống lúa mùa đặc sản khác của ĐBSCL và nghiên cứu sâu hơn về các giải pháp truy xuất nguồn gốc chuỗi cung ứng ứng dụng công nghệ thông tin.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao đối với các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Quản trị kinh doanh, Kinh tế nông nghiệp: Tham khảo cách tiếp cận kết hợp giữa quản lý chất lượng (TQM, ISO, JIT) và quản lý chuỗi cung ứng (SCM/ASCQM); quy trình thiết kế thang đo và xử lý dữ liệu hỗn hợp (EFA, CFA, hồi quy nhị phân và hồi quy đa biến).
- Giảng viên và nhà nghiên cứu: Khai thác các dữ liệu thực chứng về chuỗi ngành hàng lúa gạo ĐBSCL, phương pháp phân tích tổn thất chất lượng sau thu hoạch và mô hình kinh tế chuỗi nông sản.
- Nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý ngành nông nghiệp: Sử dụng làm căn cứ thực tiễn để xây dựng quy chuẩn kỹ thuật canh tác giống lúa mùa, quy hoạch vùng sinh thái nước lợ, chính sách hỗ trợ phát triển nhãn hiệu tập thể và giải pháp kiểm soát thị trường lúa gạo.
- Doanh nghiệp, Hợp tác xã và nông dân: Tham khảo quy trình quản lý chất lượng nội bộ (hoạch định và kiểm tra), mô hình liên kết hợp đồng dọc và các giải pháp kỹ thuật bảo quản, xay xát nhằm nâng cao giá trị thương phẩm hạt gạo Tài Nguyên.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao chất lượng gạo Tài Nguyên lại suy giảm nghiêm trọng từ sau năm 2009?
Chất lượng gạo Tài Nguyên suy giảm do sự tác động tiêu cực đồng thời ở tất cả các khâu trong chuỗi cung ứng:
- Ở khâu sản xuất: Do nông dân sử dụng chất ức chế sinh trưởng (chứa Paclobutrazol) và bón nhiều phân hóa học để chống đổ ngã, rút ngắn thời gian sinh trưởng từ 6 tháng xuống còn 4,5 tháng, cùng với sự thay đổi của nguồn nước lợ do ngăn mặn và ô nhiễm.
- Ở khâu sau thu hoạch và chế biến: Công nghệ sấy và xay xát chưa đạt chuẩn, thời gian lưu kho chưa tối ưu.
- Ở khâu tiêu thụ: Hiện tượng các doanh nghiệp và thương lái chủ động đấu trộn gạo Tài Nguyên với gạo Sóc Miên (nhập từ Campuchia có hình thức tương tự nhưng phẩm cấp thấp hơn và giá rẻ hơn) để bán kiếm lời.
2. Hai hoạt động quản lý chất lượng nội bộ nào có ảnh hưởng xuyên suốt đến chất lượng lúa gạo ở tất cả các khâu của chuỗi cung ứng?
Qua phân tích định lượng và phân tích nhân tố khám phá (EFA/CFA), luận án xác định hai hoạt động quản lý chất lượng có ý nghĩa quyết định và tác động xuyên suốt đến chất lượng lúa gạo ở cả ba khâu (sản xuất, bảo quản - chế biến, tiêu thụ) là: Hoạch định chất lượng và Kiểm tra chất lượng.
3. Việc ứng dụng mô hình Just In Time (JIT) trong luận án nhằm giải quyết vấn đề gì?
Mô hình JIT được luận án vận dụng từ lĩnh vực công nghiệp sang nông nghiệp nhằm đo lường và phân tích thời gian nhàn rỗi (idle time) trong chuỗi cung ứng. Cụ thể là khoảng thời gian chờ đợi từ lúc thu hoạch đến khi sấy, thời gian lưu trữ lúa trước khi xay xát và thời gian bảo quản gạo trước khi xuất bán. Phân tích chỉ ra rằng thời gian nhàn rỗi càng lớn thì phẩm chất cảm quan và hóa lý của gạo Tài Nguyên càng suy giảm, đồng thời làm phát sinh chi phí lưu kho.
4. Luận án đã khảo sát bao nhiêu mẫu và tại các địa bàn cụ thể nào?
Luận án đã tiến hành phỏng vấn tổng cộng 577 quan sát mẫu, bao gồm nông dân, thương lái, chủ nhà máy xay xát, doanh nghiệp, đại lý bán buôn/bán lẻ, người tiêu dùng và chuyên gia. Địa bàn nghiên cứu trọng điểm tập trung tại 2 tỉnh có diện tích lúa Tài Nguyên lớn nhất là Sóc Trăng (huyện Thạnh Trị) và Long An (huyện Cần Đước), có bổ sung nghiên cứu điển hình tại Cà Mau, kết hợp khảo sát các tác nhân thương mại theo chuỗi tại Cần Thơ, Tiền Giang và Trà Vinh.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Tất Duyên Thư đã giải quyết một cách khoa học vấn đề quản lý chất lượng lúa gạo đặc sản Tài Nguyên vùng ĐBSCL theo chuỗi cung ứng. Bằng phương pháp tiếp cận đa chiều kết hợp định tính và định lượng trên cỡ mẫu 577 quan sát, nghiên cứu đã chứng minh thực trạng suy giảm chất lượng gạo sau năm 2009 bắt nguồn từ các sai lệch kỹ thuật canh tác (lạm dụng Paclobutrazol, rút ngắn chu kỳ sinh trưởng), hạn chế trong công nghệ chế biến sau thu hoạch và hiện tượng gian lận đấu trộn thương mại. Công trình cung cấp hệ thống giải pháp đồng bộ từ rà soát chính sách quản lý nhà nước, phục tráng giống, tổ chức liên kết hợp tác xã đến cải tiến công nghệ xay xát và kiểm soát thị trường nhằm khôi phục phẩm cấp và thương hiệu gạo Tài Nguyên.