Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý trường THPT theo Bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng. Chương 2: Thực trạng công tác chỉ đạo đảm bảo chất lượng giáo dục và kiểm định chất lượng giáo dục trường THPT tại Hải Phòng Chương 3: Các biện pháp chỉ đạo thực hiện bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục trường THPT ở thành phố Hải Phòng 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO BỘ TIÊU CHUẨN KIỂM ĐỊNH CHẤT LƢỢNG Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Song song với hoạt động dạy và học ở các cơ sở giáo dục là hoạt động đánh giá chất lượng giáo dục. Mục đích chính của đánh giá giáo dục là nhằm cải tiến chất lượng giáo dục. Đánh giá chất lượng giáo dục là công cụ giám sát quá trình dạy và học, từ đó đưa ra những quyết sách về quản lý, dự đoán các kết quả đào tạo để không ngừng cải tiến nâng cao chất lượng giáo dục.
Đánh giá chất lượng giáo dục có nhiều nội dung khác nhau, trong đó đánh giá các yếu tố điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục và đánh giá chất lượng sản phẩm giáo dục. Chất lượng sản phẩm giáo dục chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố đặc biệt là các yếu tố: chất lượng hoạt động quản lý, hoạt động giáo dục, chất lượng đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất. Chất lượng của các hoạt động giáo dục thể hiện trong việc tổ chức các quá trình giáo dục, phương pháp dạy và học, kiểm tra đánh giá, sự phát triển của người học, sự thoả mãn của cha mẹ học sinh và cộng đồng. Như vậy, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục.
Trong đó có: - Hoạt động tổ chức và quản lý nhà trường; - Hoạt động dạy và học; - Đội ngũ cán bộ, giáo viên; - Cơ sở vật chất, trang thiết bị; - Hoạt động giữa nhà trường với xã hội; - Kết quả học tập, rèn luyện của học sinh. Nhiều quốc gia trong quá trình đánh giá các trường, họ đã thực hiện công tác Kiểm định CLGD để xác nhận và công nhận chất lượng dạy và học của các trường. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở Việt Nam, đã có nhiều tác giả nghiên cứu và đề cập đến vấn đề kiểm định chất lượng giáo dục như Nguyễn Đức Chính với tác phẩm “Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học”, Nguyễn Hữu Châu với “Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng giáo dục và đánh giá chất lượng giáo dục”. Tuy nhiên việc sử dụng và quản lý việc thực hiện bộ tiêu chuẩn Kiểm định chất lượng ở trường THPT còn chưa được nghiên cứu một cách hệ thống và triệt để.
Các khái niệm công cụ Quản lý Khi trình bày khái niệm quản lý, ngoài việc trích dẫn những tư tưởng của các tác giả kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin, các tác giả thường dẫn ra quan điểm của một số tác giả nước ngoài như : Frederich Winslon Taylor (1855 – 1815); Henry Fayon (1841 – 1925); Mary Parkor Pollet (1868 – 1933). và một số tác giả Việt Nam như: Nguyễn Hoàng Toàn, Nguyễn Ngọc Quang, Hồ Văn Vĩnh, Phạm Minh Hạc, Đặng Quốc Bảo, Bùi Trọng Tuân. Các nghiên cứu về quản lý có thể được khái quát theo những khuynh hướng như sau: Thứ nhất, nghiên cứu quản lý theo quan điểm của điều khiển học và lý thuyết hệ thống. Theo đó, quản lý là một quá trình điều khiển, là chức năng của những hệ tổ chức với bản chất khác nhau (sinh học, xã hội, kỹ thuật v.) nó bảo toàn cấu trúc, duy trì chế độ hoạt động của các hệ đó.
Quản lý là tác động hợp quy luật khách quan, làm cho hệ vận động, vận hành và phát triển. Thứ hai, nghiên cứu quản lý với tư cách là một hoạt động, một lao động tất yếu trong các tổ chức của con người. Thứ ba, nghiên cứu quản lý với tư cách là một quá trình trong đó các chức năng quản lý được thực hiện trong sự tương tác lẫn nhau. Theo hướng này, quản lý là một quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích xác định.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mặc dù có những cách diễn đạt khác nhau song có thể khái quát nội dung cơ bản của quản lý được đề cập đến trong các quan niệm trên là: 1/ Quản lý là thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình hoạt động xã hội. Lao động quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người tồn tại, vận hành và phát triển; 2/ Quản lý được thực hiện với một tổ chức hay một nhóm xã hội; 3/ Quản lý là những tác động có tính hướng đích, là những tác động phối hợp nỗ lực của các cá nhân thực hiện mục tiêu của tổ chức; 4/ Yếu tố con người, trong đó chủ yếu bao gồm người quản lý và người bị quản lý giữ vai trò trung tâm trong chu trình, trong hoạt động quản lý Như vậy: Quản lý là quá trình tiến hành những hoạt động khai thác, lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản lý theo kế hoạch chủ động và phù hợp với quy luật khách quan để gây ảnh hưởng đến đối tượng quản lý nhằm tạo ra sự thay đổi cần thiết vì sự tồn tại (duy trì), ổn định và phát triển của tổ chức trong một môi trường luôn biến động. Theo quan niệm trên quản lý nhấn mạnh đến những khía cạnh sau: 1/ Quản lý có những hình thức thực thể là những hoạt động do chủ thể quản lý thực hiện. Điều đó có nghĩa không có những hoạt động này, chưa có hoạt động quản lý trên thực tế, chưa có cơ sở để khẳng định hoạt động quản lý đã xảy ra.
Các hoạt động của chủ thể quản lý có hai nội dung chính. Thứ nhất, tác động đến đối tượng quản lý (con người và những đối tượng khác); Thứ hai, khai thác, tổ chức và thực hiện các nguồn lực. Nguồn lực cũng tồn tại như một trong những đối tượng quản lý nhưng không đồng nhất về hoạt động tác động đến đối tượng quản lý với các hoạt động khai thác, tổ chức nguồn lực. Rất nhiều hoạt động tác động đến đối tượng quản lý cần đến điều kiện là nguồn lực.
Khai thác, tổ chức và thực hiện nguồn lực, trong những trường hợp cụ thể là tạo điều kiện để hoạt động tác động của chủ thể đến đối tượng quản lý được thực hiện có hiệu qủa. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2/ Quản lý thể hiện tập trung trí tuệ và ý chí của chủ thể quản lý. Điều này được thể hiện ở những tác động hướng đích có chủ định do chủ thể quản lý thực hiện và những mục tiêu mà chủ thể quản lý quyết định. Tuy nhiên, những tác động này của chủ thể quản lý chỉ có hiệu quả khi nó dựa trên cơ sở nhận thức của chủ thể và các quy luật khách quan trong lĩnh vực hoạt độngcủa mình và ý thức của chủ thể trong việc tuân thủ các quy luật khách quan đó.
Mức độ thống nhất giữa những tác động hướng đích , có chủ định và hệ thống mục tiêu do chủ thể quản lý xác định với các quy luật khách quan khẳng định mức độ của tính khoa học, nghệ thuật của quản lý. 3/ Quản lý đồng nghĩa với sự thay đổi có chủ định cho tổ chức trong và bằng những tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý cũng như trong việc khai thác, tổ chức và thực hiện các nguồn lực của tổ chức. 4/ Quản lý luôn tồn tại với tư cách là một hệ thống. Hệ thống quản lý được tạo bởi nhiều thành tố nhưng các thành tố cơ bản thường được đề cập khi phân tích hệ thống quản lý là : + Chủ thể quản lý: là trung tâm thực hiện những hoạt động khai thác, tổ chức và thực hiện nguồn lực của tổ chức ; thực hiện những tác động hướng đích, có chủ định đến đối tượng quản lý.
Chủ thể quản lý có thể là cá nhân hoặc tập thể. + Đối tượng quản lý là những đối tượng chịu tác động và thay đổi dưới những tác động hướng đích có chủ định của chủ thể quản lý. Đối tượng quản lý là con người (những người) trong tổ chức và các yếu tố được sử dụng là nguồn lực của tổ chức (thông qua việc khai thác, tổ chức và thực hiện). Đối tượng quản lý bao giờ cũng tồn tại trong một khách thể quản lý xác định.
Khách thể quản lý là cơ sở khách quan của đối tượng quản lý (cụ thể hơn là cơ sở khách quan làm nảy sinh đối tượng quản lý). Ví dụ, hệ thống giáo dục quốc dân là khách thể của quản lý giáo dục, từ đó những yếu tố như 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tài chính, nhân lực. có thể trở thành đối tượng của những chủ thể quản lý giáo dục xác định. Trong quan hệ với chủ thể quản lý, đối tượng quản lý là cái khách quan thuộc hiện thực bên ngoài chủ thể quản lý.
Đối tượng quản lý nằm ở khách thể quản lý, đối diện với chủ thể quản lý. Chủ thể quản lý và đối tượng quản lý luôn gắn liền với nhau (với những hoạt động cụ thể được tiến hành trong quản lý), cùng một lúc xuất hiện hoặc cùng một lúc biến mất. Cá nhân chỉ là chủ thể quản lý một cách đích thực khi anh ta có đối tượng cho mỗi hoạt động quản lý của mình. Những cái gì thuộc khách thể quản lý đã khiến cá nhân ấy trở thành chủ thể quản lý cũng lập tức trở thành đối tượng hoạt động quản lý của anh ta.
Khi cá nhân chưa xác định được đối tượng quản lý, đương nhiên quản lý chưa diễn ra, và cá nhân đó chưa phải là chủ thể quản lý. Như vậy chỉ có những yếu tố nào đó của khách thể quản lý tham gia vào hoạt động, có tác động cơ hoá (chứa đựng mục đích quản lý) một cá nhân (tập thể) nào đó thì nó mới trở thành đối tượng quản lý. + Công cụ quản lý : là phương tiện, giải pháp của chủ thể quản lý nhằm định hướng, dẫn dắt, khích lệ, điều hoà, phối hợp hoạt động của con người và các bộ phận trong tổ chức trong việc đạt đến các mục tiêu đã đề ra.