Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý chất lượng dạy học môn Tin học ở trường tiểu học. Chương 2: Thực trạng quản lý chất lượng dạy học môn Tin học ở các trường tiểu học tại tỉnh Bến Tre. Chương 3: Giải pháp quản lý chất lượng dạy học môn Tin học ở các trường tiểu học tại tỉnh Bến Tre. CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ CHẤT LƢỢNG DẠY HỌC MÔN TIN HỌC Ở TRƢỜNG TIỂU HỌC 1.
Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Tình hình nghiên cứu nước ngoài QLGD nói chung và QLCL trong giáo dục nói riêng được nhiều nước trên thế giới quan tâm cũng như nghiên cứu. Trong báo cáo về chất lượng giáo dục (CLGD) của hội đồng chất lượng Ấn Độ: giáo dục là một trong những yếu tố quan trọng nhất chịu trách nhiệm hình thành tính cách cho mỗi cá nhân, mục đích giáo dục ở nước này là phản ánh nhu cầu, nguyện vọng của xã hội. Chính phủ Ấn Độ đã đưa ra một chương trình giáo dục tích hợp: The Sarva Shiksha Abhiyan (SSA), là một chương trình hàng đầu cho phổ cập giáo dục tiểu học và một nhiệm vụ quốc gia được thành lập với Thủ tướng là Chủ tịch của chương trình này.
Đối với phụ huynh CLGD là: luôn nâng cao trình độ của HS được đo lường trong các bài kiểm tra, tuy nhiên do đất nước đặc hữu bởi sự phân biệt giới tính và đói nghèo đã hình thành ở phụ huynh quan điểm này. Chính phủ chỉ cung cấp cơ sở hạ tầng, tài liệu học tập và giảng dạy đầy đủ nhưng nhân viên không làm việc, bầu không khí học tập không tốt cũng không tạo nên chất lượng tốt trong giáo dục. Theo Nelson Mandela “giáo dục là thứ vũ khí mạnh nhất mà bạn có thể sử dụng để thay đổi cả thế giới.” Như vậy có thể nói CLGD ở Ấn Độ được xem như là việc đáp ứng nhu cầu của xã hội. QLCL ban đầu được các nhà khoa học nghiên cứu và áp dụng đầu tiên ở lĩnh vực kinh tế như Deming (1986), đã đưa ra lý thuyết ban đầu về 14 nguyên tắc quản lý, thông qua cải tiến chất lượng doanh nghiệp sẽ giảm chi phí và tăng năng suất cũng như thị phần.
Ông đưa ra chu trình quản lý chất lượng PDCA (Plan-Do-Check-Act), tuy ông không đưa ra mô hình QLCL toàn diện nhưng ông được ghi nhận là người tạo ra sự chuyển biến ban đầu về QLCL. Kế thừa và áp dụng nguyên tắc quản lý của Deming, Bonstingl (1992), đưa ra các ý tưởng cơ bản về QLCL toàn diện trong giáo dục. Ông đã đưa ra một số khía cạnh của nền tảng triết học và văn hóa QLCL toàn diện. 8 Trong khi đó một số nhà khoa học về giáo dục xem việc đánh giá CLGD giống như đánh giá chất lượng một nhà máy hay sử dụng triết lý khách hàng có: Sallic (2002), ông đã đặt ra câu hỏi: “Sản phẩm trong giáo dục là gì? Khách hàng là ai?”.
Theo ông việc đánh giá chất lượng trong giáo dục không khác với việc đánh giá chất lượng một nhà máy. Ông xem giáo dục như một dịch vụ cung cấp vì vậy khó đánh giá hơn so với các sản phẩm mang tính vật lý vì nó mang yếu tố chủ quan. Ông xác định giáo dục là nhà cung cấp dịch vụ, khách hàng được nhắc đến ở đây gồm: người học, người dạy, phụ huynh, các đối tác sử dụng lao động… cùng triết lý này Marmar Mukhlpadyay (2005), cũng dành thời gian nghiên cứu về CLGD, áp dụng các nguyên tắc, triết lý khách hàng, đánh giá của nhà trường, phát triển nhân lực, thực hiện TQM (Total Quality Management)… Cùng tư tưởng về nghiên cứu về TQM trong giáo dục, Jacqueline Goldberg (2002), đã nhấn mạnh các nghiên cứu về thực hành QLCL tổng thể khi áp dụng vào giáo dục. Trong nghiên cứu của mình tác giả đã phát hiện ra sự chuyển đổi thành công cách tiếp cận giáo dục sang cải tiến liên tục trong hệ thống các trường công.
Triết lý khách hàng cũng được Greenwood và cộng sự (1995), cũng đã dành thời gian nghiên cứu về giáo dục tại Anh, nhóm tác giả đã đưa ra kết luận: giáo dục tại Vương quốc Anh đã được định hình với sự ra đời của quản lý trường học. QLCL toàn diện cung cấp cách nhìn mới về nguyên tắc và cấu trúc quản lý bằng cách xác định nhu cầu của khách hàng. Trong nghiên cứu của mình nhóm tác giả đã áp dụng nguyên tắc trong QLCL tổng thể đặc biệt là QLGD, ngoài ra chi phí để đạt được chất lượng và kiểm soát quy trình cũng được tác các tác giả nêu trong nghiên cứu này.Astin (2004), đánh giá sự hoàn hảo không thể không tiến hành đánh giá chất lượng, khẳng định vai trò của chất lượng và đánh giá chất lượng. Harol Knoontz (1993), đã dành sự quan tâm đặc biệt cho vấn đề QLCL trong chuyện luận của mình.
9 Đối với Silva Roncelli-Valpot (2000), đã nêu quan niệm về hệ thống QLCL giáo dục: là hệ thống nhằm đảm bảo CLGD thông qua việc sử dụng những quá trình thích hợp để quản lý và giám sát những người thực hiện bao gồm: GV, CBQL, nhân viên và người học. Neil Hawkes (2010), giáo dục có thể có giá trị tác động đến chất lượng về thái độ và hành vi của người lớn và HS ở các nhà trường công lập, ông khẳng định giáo dục có giá trị có thể có tác động đáng kể về CLGD. Ngoài ra ông còn nghiên cứu trả lời câu hỏi liệu giáo dục có giá trị cải thiện kết quả CLGD không, ông đã tìm kiếm bằng chứng để phân tích xem giáo dục đạo đức có giá trị tích cực trong các hình thức giáo dục giá trị, đây là cơ sở cho mục đích phát triển giáo dục đạt chất lượng. Ông khẳng định: giáo dục giá trị có thể có một tác động đáng kể về chất lượng giáo dục.
Các nghiên cứu về QLCL giáo dục ở tiểu học cũng được một số nhà nghiên cứu về giáo dục như: Harol Knoontz, Lockheed, Töremen, Yin Cheong Cheng… Mỗi nhà khoa học nghiên cứu về một lĩnh vực khác nhau trong giáo dục tiểu học từ giáo viên, mối quan hệ giữa nhà trường và phụ huynh, đến nâng cao số lượng trường tiểu học nhưng nhìn chung đều nhằm mục đích nâng cao chất lượng giáo dục ở tiểu học hay QLCL ở trường tiểu học. Vào năm 2010, trong báo cáo của Hội Hoàng gia Viện Hàn lâm khoa học Vương quốc Anh đã đăng trên tạp chí Teaching Times cho biết đa số các trường tiểu học ở nước này không có GV chuyên khoa học cần thiết để cung cấp một nền giáo dục khoa học có chất lượng cao. Qua các phân tích của mình, các tác giả đã nêu lên sự thiếu hụt nghiêm trọng của GV chuyên khoa học trong các trường tiểu học ở nước này. Qua đó các nhà nghiên cứu cũng đã khuyến nghị nên có các GV chuyên môn khoa học ở các trường tiểu học, trong đó các GV khoa học cần phải được tăng lên gấp 3 lần hiện có.
Mối quan hệ giữa GV, HS và phụ huynh được K.Hasan và các cộng sự (2018), viết trong nghiên cứu về CLGD tiểu học ở Bangladesh, nghiên cứu của nhóm tác giả này còn nhằm để cải thiện điều kiện và chất lượng của GV 10 ngoài ra còn cải thiện được chất lượng môi trường của phòng học để thúc đẩy HS đến trường. Töremen (2009), đã viết mức độ thực hành QLCL trong các trường tiểu học dựa trên nhận xét của GV, nghiên cứu này đã thực hiện ở 21 trường với 420 GV. Sau quá trình nghiên cứu, tác giả đã đưa ra kết luận: cải thiện chất lượng là một quá trình liên tục, được thực hiện từ mức thấp đến quản lý mức cao, các trường tiểu học là một cấp cơ bản trong hệ thống giáo dục, ảnh hưởng rất lớn đến các cấp học cao hơn, vì vậy cải thiện CLGD ở tiểu học là nhiệm vụ hết sức quan trọng để có một nền giáo dục chất lượng cao. Yin Cheong Cheng (1994), trong nghiên báo cáo của mình tại trung tâm nghiên cứu và phát triển giáo dục Hồng Kông đã có bài viết về một sự án đã phát triển một khung các chỉ số để giám sát CLGD ở các trường tiểu học ở Hồng Kông.
Trong cuộc khảo sát lớn trên 200 trường tiểu học, với 650 lớp học là giai đoạn đầu tiên để phát triển khung chỉ số; giai đoạn tiếp theo được chia thành 2 giai đoạn nhỏ để thực hiện khảo nghiệm, dữ liệu khảo sát được sử dụng để lập bản đồ về chất lượng giáo dục ở các trường tiểu học. Lockheed (1991), trong nghiên cứu của mình đã trình bày các lựa chọn để cải thiện hiệu quả của các trường học ở các nước đang phát triển, nâng cao hiệu quả giáo dục được hiểu là nâng cao số lượng trường tiểu học. Việc nâng cao chất lượng cho các HS ở các trường tiểu học là điều kiện tiên quyết để phát triển nguồn nhân lực đáp ứng cho nhu cầu thay đổi của công nghệ. Các vấn đề được xem xét và cải thiện trong nghiên cứu này bao gồm: cải thiện chương trình, tài liệu học tập và giảng dạy, sự chuẩn bị và tạo động lực cho GV, … Các công trình nghiên cứu trên tuy chỉ khái quát về chất lượng trong giáo dục và QLCL trong trường tiểu học, chưa thực sự đi sâu vào nghiên cứu QLCL dạy học một môn học cụ thể, nhưng cũng góp phần không nhỏ 11 cho việc nghiên cứu về QLCL dạy học môn Tin học ở trường tiểu học của tác giả.
Tình hình nghiên cứu trong nước Trong luật giáo dục 2005 sửa đổi 2009 đã tiếp cận chất lượng theo quan điểm là sự đáp ứng mục tiêu, đây là xu hướng phổ biến của các nước trên thế giới hiện nay. Như vậy một nhà trường được đánh giá là đạt tiêu chuẩn khi hoàn thành mục tiêu được quy định trong luật giáo dục. Kỉ yếu hội thảo của Sở GDĐT thành phố Hồ Chí Minh (2010), trong quá trình hội nhập quốc tế đã mang lại nhiều thời cơ và thách thức cho mọi ngành nghề. Trong giáo dục nhiều nhà khoa học về QLGD và các nhà quản lý cũng đã khẳng định sự cần thiết của việc xây dựng trường học chất lượng cao vì một nền giáo dục tiên tiến mang đậm bản sắc dân tộc trong thời kì hội nhập quốc tế.
(tr18-21) QLGD đã được nghiên cứu rất nhiều từ những nhà khoa học về giáo dục như Trần Kiểm, Nguyễn Lộc, Mai Quang Huy… Các nghiên cứu này tập trung vào khoa học QLGD, quản lý trường học hiệu quả. Hiện nay có nhiều công trình nghiên cứu, các bài nghiên cứu, tham luận hội thảo về chất lượng giáo dục nhưng chủ yếu tập trung vào QLCL giáo dục đại học.