phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án có kết cấu gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý đào tạo ĐHTX theo tiếp cận BĐCL của AAOU. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý chất lƣợng đào tạo ĐHTX ở Việt Nam theo tiếp cận BĐCL của AAOU. Chƣơng 3: Các giải pháp quản lý chất lƣợng đào tạo ĐHTX ở Việt Nam theo tiếp cận BĐCL của AAOU. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC TỪ XA THEO TIẾP CẬN BẢO ĐẢM CHẤT LƢỢNG CỦA AAOU 1.1 Tổng quan về lịch sử vấn đề nghiên cứu 1.1 Các nghiên cứu về đào tạo đại học từ xa Cho đến nay, nhiều công trình nghiên cứu bàn về đào tạo ĐHTX đã ra đời.
Liên quan đến vấn đề nghiên cứu của luận án chúng tôi quan tâm đến hai xu hƣớng chính: nghiên cứu về lịch sử ra đời của ĐTĐHTX, nghiên cứu các vấn đề về chất lƣợng ĐTTX. Xu hướng thứ nhất, nghiên cứu về lịch sử ra đời, đặc điểm và vai trò của đào tạo ĐHTX Ở xu hƣớng này, các nhà nghiên cứu quan tâm đến quá trình ra đời với nguyên nhân, hình thức và vai trò của ĐTTX. Vai trò đƣợc nhấn mạnh nhiều nhất của đào tạo ĐHTX là góp phần xây dựng xã hội học tập và phát triển học tập suốt đời. Trong bối cảnh thế giới ngày càng phẳng.
Ngày nay, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 kéo gần khoảng cách giữa các quốc gia, khu vực, ĐTTX lại càng thể hiện vai trò của mình. Đào tạo ĐHTX xuất phát từ Vƣơng quốc Anh. ĐH Mở Anh quốc đƣợc thành lập dựa trên 4 nguyên tắc cốt lõi: "Mở cho ngƣời học, mở về địa điểm, mở về phƣơng pháp và mở về ý tƣởng” (Open to People, open to Places, open to Methods and open to Ideas). Tính chất “mở” nhấn mạnh sự linh hoạt của hệ thống, giảm thiểu những rào cản đối với ngƣời học do yếu tố tuổi tác, địa điểm, thời gian và tình trạng kinh tế.
Qua hơn bốn thập niên phát triển tính từ thời điểm ĐH Mở Anh Quốc ra đời năm 1963 đến nay hình thức GD mở và từ xa đã có những bƣớc tiến đáng kể. ĐTTX đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập hệ thống liên kết GD toàn cầu, tạo ra cơ hội học tập với các hình thức học tập linh hoạt, dễ tiếp cận đối với mọi tầng lớp nhân dân của nhiều quốc gia trên toàn thế giới trong bối cảnh toàn cầu hóa mà yêu cầu về nâng cao dân trí, ĐT nguồn nhân lực cho các quốc gia để hội nhập với nền kinh tế thế giới là rất cấp thiết. ĐH mở đƣợc hình thành cùng với sự ra đời và phát triển của ĐTTX. Đây là mô hình đƣợc thiết kế để tạo cơ hội học tập cho từng cá nhân, mang tính phù hợp cao.
Nó đòi hỏi một mạng lƣới văn phòng khu vực và hệ thống trung tâm học tập ở địa phƣơng, tập trung quản lý, cấu trúc hệ thống và vận hành ở tầng vĩ mô, và cần vốn đầu tƣ ban đầu cao. Hiện nay, trên thế giới có khoảng 44 ĐH, mỗi trƣờng có tối thiểu 100.000 học viên và đƣợc gọi là các siêu ĐH. Trong số này, 18 siêu ĐH ở Châu Á, riêng ở Ấn Độ có 7 siêu ĐH với tổng học viên khoảng 2,938 triệu. Wikipedia cũng lên danh 8 sách 7 ĐH Mở Châu Á trong 10 siêu ĐH lớn nhất trên thế giới.
Trong đó, ĐH Phát thanh Truyền hình Trung ƣơng Trung Quốc, với khoảng 2 triệu học viên, đứng đầu trong danh sách, mặc dù về mặt kỹ thuật, đó là sự kết hợp của các cơ sở GD riêng biệt. Loại hình trƣờng ĐH Mở mới hình thành cách đây hơn 30 năm qua, bắt đầu với ĐH Mở Vƣơng Quốc Anh thành lập năm 1969. Khác với loại hình trƣờng ĐH truyền thống, loại hình ĐH mở không tổ chức thi tuyển đầu vào, mà chỉ xét tuyển những ngƣời tốt nghiệp phổ thông trung học hoặc tƣơng đƣơng. Loại hình ĐH mở ra đời để đáp ứng nhu cầu học ĐH thƣờng xuyên và suốt đời của đông đảo ngƣời dân.
Loại hình ĐH mở đi liền với sự phát triển quy mô lớn, cung cấp GDĐH bằng phƣơng thức từ xa là chủ yếu. Tùy theo điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mỗi trƣờng ở mỗi địa phƣơng, mỗi quốc gia, mỗi khu vực, mô hình hàm thụ và/ hoặc mô hình đa phƣơng tiện và/ hoặc mô hình qua internet chiếm ƣu thế [1]. Với mục tiêu xây dựng một “xã hội học tập”, Hoa Kỳ luôn khuyến khích thúc đẩy công tác ĐTTX. Trong những năm gần đây, nhiều trƣờng ĐH hàng đầu thế giới (Harvard, Stanford, MIT, Berkeley, Maryland, Georgetown, Georgia Tech…) đều đồng loạt triển khai các hình thức ĐTTX.
Nghiên cứu của tổ chức Sloan Consortium năm 2012 chỉ ra rằng 77% lãnh đạo các trƣờng ĐH ở Mỹ đồng nhất quan điểm học trực tuyến “ngang bằng hoặc tốt hơn” học truyền thống. Bên cạnh đó, khảo sát của U. Higher Education News năm 2016 cho thấy rằng khoảng 5.8 triệu sinh viên đăng ký các khóa học từ xa vào mùa thu năm 2014, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm trƣớc [78]. Ngoài ra, theo IES ƣớc tính có tổng cộng 12,2 triệu ngƣời đăng ký học các khóa học từ xa.
Cùng với sự gia tăng về số lƣợng, chất lƣợng ĐTTX ở Hoa Kỳ cũng đƣợc nâng cao. Xã hội hóa GD đƣợc thực hiện mạnh mẽ qua quá trình này. Trải qua thời gian phát triển cùng với những tiến bộ không ngừng của khoa học và công nghệ, cùng những ý tƣởng, những kinh nghiệm đƣợc rút ra trong quá trình phát triển đến nay hệ thống GDM&TX ngày càng phát triển mạnh mẽ và ngày càng mở rộng khái niệm “mở” theo cách hiểu trƣớc đây. Một số ĐH mở còn “mong ƣớc” bổ sung thêm nguyên tắc "mở về chƣơng trình học” (open curriculum), tức là cho phép học sinh/sinh viên tự thiết kế chƣơng trình học để có thể có "văn bằng mong muốn”.
Khái niệm “mở” đƣợc hiểu rộng hơn đó là việc xây dựng nguồn tài nguyên GD, mở phong phú hơn, xây dựng các khóa học mở đại chúng. Đây đƣợc xem là xu thế phát triến của GDM&TX trên thế giới hiện nay. Peter đã chỉ ra một trong những vai trò quan trọng của ĐTTX là nhằm gia tăng chỉ số hạnh phúc. Chỉ số hạnh phúc này đƣợc nhân rộng theo lứa tuổi, không dừng lại ở những ngƣời trong độ tuổi đi học mà loại bỏ hoàn toàn giới hạn độ tuổi.
9 Hình thức ĐT này thỏa mãn đƣợc các nhu cầu khác nhau của mọi lứa tuổi [66]. Tại Việt Nam, nghiên cứu về đào tạo từ xa tập trung nghiên cứu về tình hình triển khai đào tạo từ xa, đào tạo trực tuyến và các điều kiện đảm bảo nhƣ cơ sở vật chất, học liệu, khó khăn và thuận lợi trong đào tạo từ xa. Trong bối cảnh dịch bệnh COVID 19 đang có những diễn biến phức tạp, đào tạo từ xa, học trực tuyến đang phát huy mạnh mẽ vai trò của mình trong GD và ĐT. Tác giả Phạm Phƣơng Tâm (2013) đã nghiên cứu về Một số khó khăn trong đào tạo từ xa ở trường đại học Cần Thơ đăng trên tạp chí khoa học trƣờng đại học Cần Thơ.
Đứng trên quan điểm đào tạo từ xa đƣợc Đảng và nhà nƣớc ta quan tâm, phát triển và mở rộng, trƣờng đại học Cần Thơ đã thực hiện công tác đào tạo từ xa ở trƣờng nhiều năm nhƣng vẫn còn tồn tại một số khó khăn trong công tác đào tạo. Từ thực tế đó, tác giả đã đƣa ra một số kiến nghị nhằm cải thiện chất lƣợng đào tạo hệ từ xa tại trƣờng đại học Cần Thơ nói riêng và các cơ sở đào tạo đại học trong nƣớc nói chung. Bài viết đào tạo từ xa đáp ứng nhu cẩu đào tạo nhân lực vùng đồng bằng sông Cửu Long của Phạm Phƣơng Tâm (2014) đăng trên tạp chí Khoa học giáo dục đánh giá cao vai trò của đào tạo từ xa đối với việc đáp ứng nhu cầu học tập của ngƣời dân, góp phần đào tạo nhân lực trình độ đại học góp phần phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của vùng Tây Nam Bộ nói riêng và cả nƣớc nói chung. Từ đó, tác giả làm rõ mối quan hệ giữa đào tạo từ xa và nhu cầu đào tạo nhân lực trình độ đại học căn cứ vào tình hình thực tế tại đồng bằng sông Cửu Long.
Năm 2019, bài viết Hệ thống đào tạo trực tuyến e-learning tại trường đại học Kinh tế - Tài chính TP. Hồ Chí Minh: Nghiên cứu đánh giá và kiến nghị của tác giả Huỳnh Đệ Thủ đã giới thiệu về hệ thống đào tạo e-learning và các mô hình trong đào tạo trực tuyến, đƣa ra đánh giá, nhận xét về hệ thống đào tạo trực tuyến trong trƣờng đại học kinh tế - tài chính TP. Hồ Chí Minh. Dựa trên tình hình thực tế tại trƣờng, tác giả đƣa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu của của đào tạo trực tuyến của nhà trƣờng.
Xu hướng thứ hai, nghiên cứu về chất lượng đào tạo ĐHTX Ở xu hƣớng này, các tác giả quan tâm nhiều đến vấn đề BĐCL đào tạo ĐHTX. Xây dựng, lựa chọn và áp dụng khung BĐCL phù hợp với thực tế ĐTTX của cơ sở ĐT là điều đƣợc các nhà nghiên cứu bàn thảo. Sự phát triển của ĐTTX đã đặt ra câu hỏi lớn về vấn đề chất lƣợng. Từ thập kỷ 90 của thế kỷ 20, BĐCL trong ĐTTX thu hút đƣợc sự quan tâm của các cơ sở ĐT, các cơ quan hữu quan và các chuyên gia của nhiều nƣớc trên thế giới.
Từ đó, các cơ sở ĐT bắt đầu định nghĩa và định hƣớng lại sứ mệnh và tầm nhìn của mình nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến chất lƣợng. Hiện nay, BĐCL đã trở thành 10 yếu tố quan trọng trong chiến lƣợc phát triển và văn hóa của các cơ sở ĐTTX. Nhiều tổ chức đã ban hành khung BĐCL nhằm tạo ra bộ tiêu chuẩn chung đánh giá các cơ sở GD trong đó có thể kể đến khung BĐCL của hiệp hội các trƣờng ĐH Mở châu Á (Asian Association of Open Universities - AAOU) hay khung BĐCL của khối thịnh vƣợng chung về học tập (Commonwealth of Learning - COL),… Các tổ chức có liên quan tìm kiếm trách nhiệm giải trình trong GDĐH đã thúc đẩy các chính phủ thành lập các cơ quan kiểm định và BĐCL. Các cơ quan nhƣ mạng lƣới BĐCL châu Âu (ENQA), mạng lƣới quốc tế các cơ quan BĐCL cho GDĐH (INQAAHE) và UNESCO cùng hợp tác và chia sẻ thông tin về tiêu chuẩn chất lƣợng và các tấm gƣơng điển hình.
Lee tiến hành nghiên cứu về BĐCL tại Viện ĐH Mở Hong Kong.