Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG TRẺ Ở TRƯỜNG MẦM NON 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Trong bất cứ thời kỳ lịch sử nào và dưới mọi chế độ xã hội thì việc đào tạo con người cũng đều vô cùng quan trọng, đặc biệt là việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ ngay từ khi còn nhỏ, bởi lẽ trẻ em là tài sản và là công dân tương lai của mỗi quốc gia. Theo nhà giáo dục nổi tiếng Macarenco: "95% kết quả của quá trình giáo dục một con người từ sinh ra đến lúc chết được quyết định bởi giai đoạn 5 năm đầu của quá trình đó" [23].
Giáo sư Makoto Shichida của Nhật Bản đã viết trong cuốn “Phương pháp Shichida” về tầm quan trọng của dinh dưỡng có sự ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển thể chất và nhân cách của trẻ. Đây là phương pháp giáo dục cân nhắc đến những tác động, kích thích tích cực để giúp não bộ phát triển một cách toàn diện mà không tạo ra sự chênh lệch giữa não trái và não phải. Các bán cầu não sẽ được chú trọng kích thích sự phát triển theo đúng giai đoạn phát triển sinh học của trẻ nhằm phát triển hết tiềm năng của bé. Bên cạnh đó, các bài tập thể dục và chế độ dinh dưỡng thích hợp rất được quan tâm vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển tinh thần và thể chất của trẻ.
Và quan trọng hơn cả, phương pháp giáo dục Shichida đặt mục tiêu giáo dục toàn bộ nhân cách và nuôi dưỡng tâm hồn trẻ lên hàng đầu. Cụ thể là dạy bé những kỹ năng cần thiết trong cuộc sống, cách bé suy nghĩ độc lập, các quy tắc xã hội, cũng như việc phát triển những cảm xúc và tinh thần cộng đồng. Phương pháp giáo dục này sẽ giúp trẻ phát triển động cơ học tập, cũng như niềm vui tò mò, khám phá những điều mới và thế giới quan xung quanh trẻ [20] Nhà Triết học, tâm lý học người Thụy Sĩ Jean Piaget với cuốn “Sự ra đời trí khôn ở trẻ em” là kết quả của sự nghiên cứu lý thuyết và những ghi chép chính xác những phản ứng tự nhiên và phản ứng do ông kích thích tạo nên ở 3 đứa con của mình, nhằm quan sát sự ra đời và phát triển của trí khôn trẻ em. Lý thuyết Piaget có ảnh hưởng sâu rộng với nền giáo dục thế giới thế kỷ 20, trong đó có tác động của 6 Piaget đối với thành công ngoạn mục của giáo dục Mỹ trong nửa thế kỷ lại đây.Mukhina với cuốn Tâm lý học mẫu giáo trong đó nghiên cứu về tâm lý học trẻ em trong độ tuổi mẫu giáo nhằm giúp các nhà nghiên cứu đưa ra các biện pháp phát triển toàn diện của trẻ dựa trên cơ sở phát triển tâm lý của trẻ.
Những nghiên cứu ở trong nước Nghiên cứu về tâm sinh lý trẻ em và chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em đã được rất nhiều tác giả trong nước tiến hành: - Tác giả Nguyễn Thị Ánh Tuyết với cuốn “Tâm lý trẻ em lứa tuổi mầm non” (từ lọt lòng đến 6 tuổi) giới thiệu về những vấn đề cơ bản, có hệ thống về tâm lý học trẻ em dựa trên những nghiên cứu về tâm lý trẻ em của các nhà khoa học trong và ngoài nước, được trình bày theo quan điểm tâm lý học khoa học - coi trẻ em là một thực thể tự nhiên đang phát triển, sự phát triển đó chính là đứa trẻ đang lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử, xã hội trong nền văn hóa do loài người sáng tạo nên, từ đó đưa ra các phương pháp chăm sóc trẻ ở những giai đoạn khác nhau. [34] - Tác giả Lê Thị Hoa Mai với cuốn “dinh dưỡng trẻ em” do nhà xuất bản Giáo dục xuất bản đã cung cấp những kiến thức cơ bản trên cơ sở khoa học về dinh dưỡng để áp dụng trong công tác chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ ở độ tuổi mầm non [12] - Tác giả Hoàng Thị Phương với tài liệu “Phương pháp chăm sóc, vệ sinh trẻ em” do NXB Đại học Sư Phạm phát hành đã tập trung nghiên cứu và giải quyết các vấn đề có liên quan đến bảo vệ và củng cố sức khỏe trẻ em từ 0-6 tuổi, môi trường sống có ảnh hưởng đến sức khỏe trẻ, đặc điểm chăm sóc trẻ, phương pháp chăm sóc và vệ sinh cho trẻ mầm non, cách đánh giá hiệu quả chăm sóc, giáo dục trẻ một cách khách quan. [25] - Tác giả Hồng Thu, Đỗ Huy với cuốn “Dinh dưỡng và cách chế biến món ăn cho trẻ mầm non” do Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam phát hành đã đưa ra những yêu cầu về dinh dưỡng cho trẻ nói chung và dinh dưỡng cho trẻ trong một ngày ở trường mầm non nói riêng. Tài liệu cũng đưa ra các cách chế biến các món ăn thông thường phù hợp với trẻ mầm non, đảm bảo các yêu cầu dễ tìm nguồn thực phẩm, dễ chế biến nhưng được trẻ yêu thích.
[30] Tất cả các nội dung trên đều được nghiên cứu và giải quyết theo quan điểm duy vật biện chứng và tư tưởng khoa học của C.Mác-Lê nin về con người và môi trường xung quanh cũng như bản chất của con người. Tuy nhiên, sự phát triển của trẻ 7 ở mỗi giai đoạn phụ thuộc nhiều vào môi trường sống. Nếu trẻ được sống trong một môi trường đầy đủ về vật chất, được quan tâm, chăm sóc về tinh thần theo khoa học, trẻ có được tình yêu thương của những người thân và những người xung quan thì trẻ sẽ có sự phát triển hài hòa và cân đối. Ngược lại, sự phát triển của trẻ sẽ không được đầy đủ, lệch lạc nếu như trẻ sống trong môi trường không đầy đủ về cơ sở vật chất, thiếu sự quan tâm chăm sóc của gia đình và xã hội, hoặc nếu như có thì sự quan tâm chăm sóc chưa khoa học, còn theo cảm tính, nuông chiều trẻ.
Trong giai đoạn hiện nay, khi đời sống kinh tế-xã hội ngày càng phát triển, các vấn đề liên quan đến trẻ em ngày càng được xã hội quan tâm hơn. Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng đã chỉ rõ: đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Nguồn nhân lực chất lượng cao đòi hỏi cả về thể chất và trí tuệ, do đó, theo nghiên cứu của các nhà tâm lý và giáo dục thì 5 năm đầu đời của con người quyết định toàn bộ quá trình giáo dục của con người đó. Chính vì thế, việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ ở lứa tuổi mầm non là vô cùng quan trọng, nó quyết định toàn bộ quá trình giáo dục của con người, do vậy đòi hỏi phải có sự quan tâm của xã hội nói chung và của các nhà giáo dục đặc biệt là giáo dục mầm non nói riêng.
Một số khái niệm 1. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 1. Quản lý Thuật ngữ quản lý được sử dụng phổ biến nhưng mỗi nghiên cứu lại quan niệm quản lý ở các góc độ tiếp cận khác nhau nên chưa có một định nghĩa chung và thống nhất. Quản lý là một phạm trù khách quan và tồn tại như một tất yếu của lịch sử, chính vì thế Các Mác đã nhận định rằng: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể với sự vận động của những khí quan độc lập của nó.
Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”.20] Các Mác đã nói lên được bản chất của quản lý là một hoạt động lao động để điều khiển quá trình lao động, một hoạt động tất yếu của xã hội loài người. 8 Trong quá trình tồn tại và phát triển của quản lý, khái niệm quản lý được nhiều nhà khoa học, lý luận đưa ra, nó thường phụ thuộc vào lĩnh vực nghiên cứu và hoạt động của mỗi tác giả như: Theo Frederick Winslow Taylor (Mỹ), một người được mệnh danh là người cha của lý luận quản lý một cách khoa học vào đầu thế kỷ XX, ông cho rằng: “Quản lý một cách khoa học không phải là một nhóm biện pháp nâng cao hiệu suất công việc. Nó cũng không phải là một chế độ hạch toán giá thành. Nó cũng không phải là một chế độ tiền lương mới.
Thực chất của việc quản lý một cách khoa học là một cuộc cách mạng hoàn toàn tư tưởng của công nhân trong các xí nghiệp hay tổ chức, là cuộc cách mạng hoàn toàn về trách nhiệm của công nhân đối với công việc của họ”. [7] Theo Henri Fayol (Pháp) thì “Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát. Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy”. [7] Theo Omaror (Liên Xô) thì Quản lý là tính toán sử dụng hợp lý các nguồn lực nhằm thực hiện các nhiệm vụ sản xuất và dịch vụ với hiệu quả kinh tế tối ưu.
Tác giả Bùi Trọng Tuân-Nguyễn Kỳ cho rằng: "Quản lý là chức năng của những hệ thống có tổ chức với những bản chất khác nhau (kỹ thuật, sinh vật, xã hội) thực hiện những chương trình mục đích hoạt động”.19] Tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm đạt được những mục tiêu dự kiến”.12] Theo tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt thì “quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định”.[24] Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý nhằm phối hợp sự nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành thành tựu của cả xã hội”. “Quản lý là quá trình tác động có định hướng, có tổ chức, lựa chọn trong các tác động có thể có, dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường, nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định”.