Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn tiếng Anh cho giáo viên. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực kiểm tra đánh giá kết quả học tập trong môn tiếng Anh cho giáo viên tiểu học huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực kiểm tra đánh giá kết quả học tập trong môn tiếng Anh cho giáo viên tiểu học huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƢỠNG NĂNG LỰC KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP TRONG MÔN TIẾNG ANH CHO GIÁO VIÊN CẤP TIỂU HỌC THEO HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGƢỜI HỌC 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về quản lý hoạt động bồi dưỡng đội ngũ giáo viên trường tiểu học Trong những năm gần đây, sự phát triển giáo dục ở Phần Lan được cả thế giới biết đến và ngưỡng mộ, một trong những nguyên do dẫn đến sự thành công này là sự phát triển về chất lượng đội ngũ GV. Chính phủ Phần Lan rất chú trọng hoạt động bồi dưỡng nâng cao chuyên môn GV. Nhà nước mỗi năm dành khoảng 30-40 triệu USD để bồi dưỡng chuyên môn cho GV và Hiệu trưởng.
Tại các trường học, nhà trường dành một quỹ thời gian đáng kể để GV giao lưu, hỏi học thường xuyên, các GV ở các trường trong một khu vực cũng được khuyến khích hợp tác để trao đổi kinh nghiệm. Ở Nhật Bản, việc bồi dưỡng GV có quy chế riêng. Nhà nước có chính sách bồi dưỡng hàng năm bắt buộc đối với GV phổ thông mới vào nghề. Còn với GV đương nhiệm, hoạt động bồi dưỡng được thực hiện bằng nhiều hình thức phong phú và đa dạng, phù hợp với mỗi cấp học.
Chính sách đãi ngộ GV chủ yếu thể hiện qua chế độ tiền lương, phụ cấp, trợ cấp, trong đó, mức tăng lương căn cứ vào thành tích và thâm niên công tác. Năm 2002, Việt Nam triển khai Dự án phát triển GV tiểu học với mục đích nghiên cứu công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBQL và GV đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục tiểu học.Dự án quan tâm nâng cao chất lượng đội ngũ GV tiểu học và tăng cường năng lực cho các trường sư phạm đào tạo GV tiểu học, tạo nền tảng triển khai chương trình nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học trên phạm vi toàn quốc. Dự án góp phần giúp nền giáo dục Việt Nam có bước đi song hành và hội nhập giáo dục tiên tiến trên thế giới. Việc nâng cao chất lượng GV được thực hiện 7 một cách logic, từ thay đổi chương trình đào tạo, bồi dưỡng GV tiểu học đến thay đổi chế độ lao động, tiền lương và cách đánh giá năng lực, quá trình giảng dạy.
Những chính sách trên cho thấy GV với vai trò là lực lượng quyết định chất lượng giáo dục đã trở thành tâm điểm của chính sách cải tổ và phát triển giáo dục ở nhiều quốc gia. Các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam đã và đang dành sự quan tâm sâu sắc đến việc xây dựng, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ nhà giáo. Về nội dung, chương trình bồi dưỡng giáo viên Nội dung, chương trình bồi dưỡng GV thường được các tác giả đề cập trong các công trình nghiên cứu phát triển đội ngũ GV. Theo báo cáo kết quả nghiên cứu về sự phát triển giáo dục, Ủy ban quốc tế về giáo dục thế kỷ XXI của UNESCO (1998) đã khẳng định: “thầy giáo là yếu tố quyết định hàng đầu đối với chất lượng giáo dục.
Do đó, muốn phát triển giáo dục thì trước hết và trên hết phải phát triển đội ngũ GV về cả số lượng và chất lượng” [42, tr. Điều đó cho thấy nội dung, chương trình bồi dưỡng, phát triển đội ngũ GV vừa quan tâm đến yếu tố số lượng vừa quan tâm phát triển phẩm chất, kiến thức, kỹ năng đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp. Hơn nữa, các chuyên gia giáo dục của Tổ chức UNESCO (1998) cho rằng nội dung, chương trình bồi dưỡng GV phải tương ứng với vai trò đang thay đổi của GV: Đảm nhiệm nhiều chức năng hơn so với trước, có trách nhiệm chủ động hơn trong việc lựa chọn nội dung dạy học và giáo dục; Chuyển mạnh từ chỗ truyền thụ kiến thức một chiều sang hoạt động tổ chức việc học của HS, sử dụng tối đa tài nguyên tri thức trong xã hội; Chú trọng hơn việc cá biệt hóa học tập, thay đổi tính chất trong quan hệ thầy trò; Yêu cầu sử dụng rộng rãi hơn phương tiện dạy học hiện đại kéo theo yêu cầu trang bị thêm kiến thức, kỹ năng phù hợp; Yêu cầu hợp tác rộng rãi và chặt chẽ hơn với GV cùng trường, thay đổi cấu trúc trong mối quan hệ giữa GV với nhau; Thắt chặt hơn mối quan hệ với cha mẹ HS và cộng đồng góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống; Yêu cầu GV tham gia các hoạt động trong và ngoài nhà trường; Giảm bớt và thay đổi kiểu uy tín truyền thống trong quan hệ với HS, nhất là đối với HS lớn và cha mẹ HS [42, tr. Tại Hàn Quốc, việc bồi dưỡng GV là yêu cầu bắt buộc.
Thời lượng chương 8 trình bồi dưỡng GV kéo dài 182 giờ. Chương trình được phân loại phù hợp với từng đối tượng và mục đích bồi dưỡng, bao gồm: (1) Bồi dưỡng về xây dựng chương trình giảng dạy; (2) Đào tạo số hóa thông tin, dữ liệu; (3) Bồi dưỡng chung; (4) Bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm… Người thực hiện chương trình có quyền quyết định nội dung và thời gian cho mỗi khóa bồi dưỡng. Nội dung bồi dưỡng thường chú ý đến kiến thức mới, phương pháp giảng dạy tiên tiến và phổ biến trên thế giới. Trong công trình nghiên cứu về công tác hỗ trợ nghiệp vụ sư phạm cho GV tập sự trường tiểu học, tác giả Nguyễn Đức Trí và Nguyễn Thùy Vân (2010) tiến hành tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn, giới thiệu một số nội dung và hình thức bồi dưỡng GV tập sự, qua đó đề xuất nội dung chương trình hỗ trợ GV tập sự ở trường tiểu học.
Chương trình cấu trúc theo định hướng phát triển năng lực nghề nghiệp, đáp ứng chuẩn nghề nghiệp GV tiểu học; Chú trọng bồi dưỡng kỹ năng thực hành ở trường tiểu học trên cơ sở khoa học giáo dục hiện đại; Biên soạn tài liệu bồi dưỡng dưới hình thức tinh giản, gọn nhẹ phù hợp việc tự học, vận dụng trong thời gian tập sự và làm cơ sở mở rộng, khai thác kiến thức, kỹ năng trong thực tiễn nghề nghiệp những năm tiếp theo [33, tr. Tác giả Nguyễn Việt Phương đã nghiên cứu cơ sở lý luận về bồi dưỡng GV, quản lý bồi dưỡng GV và yêu cầu cần đạt của GV theo chuẩn nghề nghiệp, từ đó đưa ra 6 biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả bồi dưỡng GV tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp trên địa bàn huyện Thường Tín trong luận văn “Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên tiếng Anh theo chuẩn nghề nghiệp tại huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội” (2020) [29, tr. Luận văn “Quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên tiểu học huyện Ph ương, tỉnh Thái Nguyên đáp ng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới” (2020) của tác giả Hoàng Văn Khởi đã tập trung nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học cho GV tiểu học, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học cho GV tiểu học huyện Phú Lương đáp ứng yêu cầu thực hiện chương trình GDPT2018 [24, tr. Năm 2020, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành tài liệu Mô đun 2 “Quản trị nhân sự trong trường tiểu học”(Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT 9 ngày 26/12/2018 của Bộ trưởng Bộ GDĐT) nhằm hướng dẫn hiệu trưởng, phó hiệu trưởng trường tiểu học thực hiện quản trị nhân sự trong nhà trường đáp ứng yêu cầu triển khai thực hiện Chương trình GDPT2018, trong đó có hoạt động quản lý bồi dưỡng GV [7, tr.
Bộ tài liệu đã đưa ra những yêu cầu về phát triển đội ngũ GV tiểu học đáp ứng Chương trình GDPT2018. Đây được xem là cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch bồi dưỡng GV tiểu học thực hiện Chương trình GDPT2018 tại các nhà trường. Những nghiên cứu về hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn tiếng Anh theo hướng phát triển năng lực người học ở cấp tiểu học Trong bối cảnh giáo dục đổi mới hiện nay, đánh giá được coi là một phần quan trọng trong khả năng định hướng và tác động đến các hoạt động giáo dục khác bao gồm cả hướng dẫn và học tập nói chung. Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng và phát triển năng lực đánh giá cho giáo viên (TAC) đang trở thành vấn đề cấp thiết và quan trọng đối với cả thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.
Theo quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu giáo dục, theo nghĩa rộng, TAC bao gồm cả kiến thức, kỹ năng liên quan đến hoạt động đánh giá của giáo viên theo Grant Wiggins (2002) phát biểu cũng như việc giải thích và sử dụng thông tin, bằng chứng tổng hợp để điều chỉnh việc giảng dạy của giáo viên cùng việc học tập của học sinh, và báo cáo cho các bộ phận liên quan [37, tr. Các nghiên cứu của Mehrens, W. (1984) cho thấy, kết quả hoạt động đánh giá trên lớp của giáo viên tiểu học ở Canada bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi các yếu tố liên quan đến thời gian và tính chủ quan của người đánh giá [40, tr. Trong một cuộc điều tra về cách thức các lý thuyết và thực hành đánh giá làm việc của giáo viên bảo tồn thay đổi trong việc áp dụng các lý thuyết và thực hành đó trong môi trường học tập có cố vấn, Mehrens, W.
(2015) khẳng định rằng chương trình đánh giá có ảnh hưởng đến năng lực đánh giá của các giáo viên [41, tr. Jon Mueller (2005) cho thấy rằng các chương trình đào tạo đánh giá được xây dựng trong các chương trình nghiên cứu của họ đã góp phần làm tăng khả năng đọc viết đánh giá của giáo viên. Ngoài ra, thời gian là một yếu tố quan trọng trong việc phát triển khả năng đánh giá khả năng đọc viết. Điều này bao gồm cả thời gian 10 để đạt được kiến thức và kỹ năng, cũng như thời gian để thực hiện những thay đổi có ý nghĩa, bền vững trong thực hành đánh giá lớp học [39, tr.
Cùng với lập luận của Mehrens, W. (2015) đã đưa ra hai nhóm yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đánh giá và xếp loại của giáo viên bao gồm các yếu tố bên trong và bên ngoài, tương ứng.