phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nƣớc về an sinh xã hội Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc về an sinh xã hội trong các khu công nghiệp trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng, giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc về an sinh xã hội trong các khu công nghiệp trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ AN SINH XÃ HỘI 1. Một số nội dung cơ bản về an sinh xã hội 1. Khái niệm về an sinh xã hội An sinh xã hội có nội dung rất rộng và ngày càng hoàn thiện về nhận thức và thực tiễn thực hiện trên toàn thế giới. An sinh xã hội theo quan điểm của một số tổ chức quốc tế cũng có mức độ rộng, hẹp và đối tƣợng hƣớng tới khác nhau.
Theo khái niệm của Tổ chức lao động quốc tế (ILO): “An sinh xã hội là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị mất hoặc bị giảm đột ngột nguồn thu nhập vì ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thƣơng tật, tuổi già và chết; đồng thời bảo đảm các chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình có con nhỏ” [27]. Theo Ngân hàng thế giới (WB): An sinh xã hội là những biện pháp của chính phủ nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đƣơng đầu và kiềm chế đƣợc nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thƣơng và những bấp bênh thu nhập. Ở Việt Nam, mặc dù ASXH là một lĩnh vực còn nhiều mới mẻ nhƣng cũng đã dành đƣợc sự quan tâm của nhiều học giả và các nhà quản lý nghiên cứu vấn đề này. Trong “Chiến lƣợc an sinh xã hội giai đoạn 2011 – 2020” ghi nhận: “ASXH là sự bảo đảm mà xã hội cung cấp cho mọi thành viên trong xã hội thông qua việc thực thi hệ thống các cơ chế, chính sách và biện pháp can thiệp trƣớc các nguy cơ, rủi ro có thể dẫn đến suy giảm hoặc mất đi nguồn sinh kế” [24].
Tác giả Nguyễn Hải Hữu thì cho rằng: ASXH là một hệ thống các cơ chế, chính sách, biện pháp của Nhà nƣớc và xã hội nhằm trợ giúp mọi thành 8 viên trong xã hội đối phó với các rủi ro, các cú sốc về kinh tế - xã hội làm cho họ có nguy cơ suy giảm, mất nguồn thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, già cả không còn sức lao động hoặc vì những nguyên nhân khách quan rơi vào hoàn cảnh nghèo khổ và cung cấp các dịch vụ sức khỏe cho cộng đồng, thông qua hệ thống mạng lƣới về BHXH, BHYT và TGXH [27, tr. Nhƣ vậy, an sinh xã hội là sự bảo đảm an toàn thu nhập ở mức tối thiểu thông qua hệ thống các chính sách can thiệp nhằm quản lý rủi ro tốt hơn, bao gồm các rủi ro liên quan đến nhu cầu cơ bản nhất của con ngƣời: rủi ro về sức khỏe, thiếu hoặc mất việc làm, tuổi già, trẻ em, tàn tật…dẫn đến không có thu nhập tạm thời hoặc vĩnh viễn so với mức tối thiểu đủ sống (đƣợc luật hóa hoặc qui định)… Mặc dù, với những diễn đạt khác nhau, các quan niệm về an sinh xã hội đều có những điểm chung, đó là: Là sự bảo đảm an toàn thu nhập ở mức tối thiểu thông qua hệ thống các chính sách can thiệp nhằm quản lý rủi ro tốt hơn; Là các chính sách do Nhà nƣớc tổ chức thực hiên là chính, ngoài ra còn có sự tham gia của các tổ chức xã hội, cộng đồng và thị trƣờng. Các chính sách này hƣớng đến mọi thành viên trong xã hội, bảo đảm cho mọi thành viên đƣợc bình đẳng về tiếp cận và chất lƣợng dịch vụ, tuy nhiên nhấn mạnh đến nhóm đối tƣợng yếu thế; Là lƣới an toàn cho mọi thành viên trong xã hội. * Phân biệt chính sách ASXH với chính sách xã hội Xuất phát từ những quan điểm, chủ trƣơng của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc, từ cách tiếp cận trên, có thể hiểu và phân biệt chính sách ASXH và chính sách xã hội nhƣ sau: Chính sách xã hội là một loại chính sách đƣợc thể chế hóa bằng pháp luật của Nhà nƣớc, là hệ thống quan điểm, chủ trƣơng, phƣơng hƣớng và biện pháp để giải quyết những vấn đề xã hội đặt ra trong một thời gian và không gian nhất 9 định, trƣớc hết là những vẫn đề xã hội liên quan đến đời sống của con ngƣời theo nguyên tắc tiến bộ và công bằng xã hội, nhằm góp phần ổn định và phát triển bền vững đất nƣớc.
Mục tiêu của chính sách xã hội theo công bố Copenhagen là hƣớng vào xóa đói giảm nghèo, mở rộng việc làm và hòa nhập xã hội nhóm yếu thế. Đối tƣợng của chính sách xã hội là ngƣời nghèo thành thị và nông thôn, phụ nữ, trẻ em, thanh niên, ngƣời tàn tật, ngƣời dân tộc thiểu số. Trong khi đó, đối tƣợng của chính sách ASXH rộng hơn nhiều, vì nó hƣớng vào đảm bảo an toàn thu nhập cho mọi thành viên trong xã hội để đảm bảo cuộc sống bình thƣờng cho họ khi bị rủi ro. Vì thế, đối tƣợng của chính sách ASXH là mọi ngƣời dân, kể cả ngƣời trong độ tuổi lao động, ngƣời chƣa đến tuổi lao động và ngƣời hết tuổi lao động.
Chức năng của an sinh xã hội Một là, bảo đảm thu nhập ở mức tối thiểu Đây là chức năng cơ bản nhất của an sinh xã hội. An sinh xã hội có vai trò cung cấp mức tối thiểu thu nhập bảo đảm quyền sống tối thiểu của con ngƣời, bao gồm các quyền về ăn, sức khỏe, giáo dục, nhà ở và một số dịch vụ cơ bản nhằm bảo vệ con ngƣời khỏi bị đói nghèo do không có thu nhập tạm thời hoặc vĩnh viễn. Hai là, nâng cao năng lực quản lý rủi ro Nền tảng của đảm bảo an sinh xã hội là quản lý rủi ro, bao gồm: Phòng ngừa rủi ro: Hỗ trợ ngƣời dân chủ động ngăn ngừa rủi ro trong đời sống sức khỏe, sản xuất kinh doanh và biến động của môi trƣờng tự nhiên Giảm thiều rủi ro: giúp cho ngƣời dân có đủ nguồn lực để bù đắp những thiếu hụt về thu nhập do các biến cố trong đời sống, sức khỏe, sản xuất kinh doanh và môi trƣờng tự nhiên. Khắc phục rủi ro: Hỗ trợ kịp thời cho ngƣời dân để hạn chế tối đa các tác động không lƣờng trƣớc hoặc vƣợt quá khả năng kiểm soát do các biến cố môi trƣờng trong đời sống, sức khỏe, sản xuất kinh doanh, môi trƣờng tự nhiên và bảo đảm điều kiện sống tối thiểu của ngƣời dân.
10 Ba là, phân phối thu nhập Một trong những chức năng quan trọng của an sinh xã hội là bảo đảm thu nhập cho những ngƣời/nhóm đối tƣợng khi không có khả năng tạo thu nhập. Các chính sách giảm nghèo, các hình thức trợ giúp xã hội thƣờng xuyên và đột xuất cho các nhóm đối tƣợng yếu thế, dễ bị tổn thƣơng và phƣơng châm “ngƣời trẻ đóng – ngƣời già hƣởng” trong bảo hiểm xã hội, hay “ngƣời khỏe đóng – ngƣời ốm hƣởng” trong bảo hiểm y tế thể hiện rõ chức năng chia sẻ rủi ro, phân phối lại thu nhập của an sinh xã hội, ngay cả khi phân phối không dựa trên sự đóng góp, mà dựa vào nhu cầu của cá nhân cũng nhƣ khả năng đảm bảo của ngân sách nhà nƣớc. Bốn là, thúc đẩy việc làm bền vững và phát triển thị trƣờng lao động Hệ thống an sinh xã hội thức đẩy việc làm bền vững, tăng cƣờng kỹ năng và các cơ hội tham gia thị trƣờng lao động cho ngƣời lao động thông qua việc: Hỗ trợ đào tạo nghề cho ngƣời lao động (đặc biệt ngƣời nghèo, ngƣời nông thôn,…); Phát triển thông tin, thị trƣờng lao động và sịch vụ việc làm để kết nối cung cầu lao động, giảm thiểu mất cân bằng cung cấp lao động; Hỗ trợ đào tạo việc làm trực tiếp cho một bộ phận ngƣời lao động thông qua các chƣơng trình cho vay vốn tín dụng ƣu đãi và các chƣơng trình thị trƣờng lao động khác; Hỗ trợ chuyển đổi việc làm cho lao động mất đất, lao động di cƣ, lao động bị tác động bởi khủng hoảng kinh tế. Năm là, nâng cao hiệu quả quản lý xã hội, thúc đẩy gắn kết xã hội và phát triển xã hội Một hệ thống an sinh xã hội đƣợc xây dựng và thực thi có hiệu quả sẽ góp phần quan trọng vào sự phát triển của mỗi quốc gia, cụ thể: - Nâng cao hiệu quả quản lý xã hội An sinh xã hội là công cụ quản lý của Nhà nƣớc trong lĩnh vực phân phối và điều tiết phân phối.
Thông qua các chính sách thuế và các chính sách chuyển nhƣợng xã hội, Nhà nƣớc thực hiên vai trò điều tiết, phân phối lại thu nhập giữa các khu vực kinh tế, các vùng kinh tế, các nhóm dân cƣ và các thế hệ. 11 - Xóa đói giảm nghèo, giảm bất bình đẳng, thu hẹp chênh lệch về điều kiện sống theo vùng, các nhóm dân cƣ Nhà nƣớc thông qua chính sách hỗ trợ ngƣời nghèo, các đối tƣợng yếu thế, điều chỉnh nguồn lực cho các vùng nghèo, vùng chậm phát triển, tạo nên sự phát triển hài hòa, giảm bớt sự chênh lệch giữa các vùng, hạn chế bất bình đẳng giữa các nhóm dân cƣ, tạo nên sự đồng thuận giữa các giai tầng, các nhóm xã hội trong quá trình phát triển và duy trì sự ổn định xã hội. - Góp phần tăng trƣởng kinh tế, gắn kết xã hội Thông qua hỗ trợ ngƣời nghèo, ngƣời yếu thế tham gia thi trƣờng lao động, giảm nghèo, giảm bất bình đẳng,…an sinh xã hội nâng cao nguồn vốn con ngƣời, tăng cơ hội và phát triển con ngƣời và tăng cƣờng sự hòa nhập, là tiền đề cho tăng trƣởng kinh tế nhanh, bền vững và tăng cƣờng gắn kết xã hội. - Hƣớng tới tƣơng lai tốt đẹp hơn An sinh xã hội đƣợc coi là công cụ để đầu tƣ cho tƣơng lai, giảm rủi ro trong tƣơng lai.
Một hệ thống ASXH đƣợc thiết kế hiệu quả có thể tạo điều kiện cho mỗi cá nhân đƣợc phát triển độc lập, chủ động và nhiều cơ hội đầu tƣ tốt hơn cho tƣơng lai.