phần mở đầu, phần kết luận, nô ̣i dung luâ ̣n văn đƣ ợc cấu thành 4 chƣơng - Chƣơng 1: Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về ASXH ở Việt Nam; - Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu; - Chƣơng 3: Thực trạng về quản lý chính sách ASXH cho đối tƣợng trẻ em tại Việt Nam; - Chƣơng 4: Phƣơng hƣớng và giải pháp quản lý chính sách ASXH cho đối tƣợng trẻ em tại Việt Nam 4 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI CHO ĐỐI TƢỢNG TRẺ EM TẠI VIỆT NAM 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu. Các sách tham khảo, đề tài, luận án nghiên cứu đã được công bố. Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu, tác giả nhận thấy đã có rất nhiều sách, đề tài đề cập đến ASXH, các chính sách ASXH tại Việt Nam, nhƣ: + Bộ Lao động – Thƣơng binh và Xã hội (2011) “Một số chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam”.
Cuốn sách đã cung cấp các thông tin về một số nghị định, quyết định của Nhà nƣớc, Chính phủ về chính chính an sinh xã hội cho đối tƣợng trẻ em kèm theo các thông tƣ hƣớng dẫn thực hiện trong đó bao gồm cả quản lý chính sách ASXH. “Chính sách an sinh xã hội thực trạng và giải pháp”.Tác giả đã đề cập hệ thống chính sách ASXH ở Việt Nam trong giai đoạn đổi mới: chính sách về thị trƣờng lao động, chính sách về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chính sách về trợ giúp xã hội, chính sách ƣu đãi xã hội. Thông qua các nghiên cứu về chính sách ASXH tại một số quốc gia, tác giả cũng nêu ra những trở ngại trong việc thực thi các chính sách ASXH tại Việt Nam, trong đó có vấn đề quản lý chính sách ASXH cho các đối tƣợng.“Chính sách an sinh xã hội và vai trò của nhà nước trong việc thực hiện chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam” – Luận án Tiến sĩ tại Học viện Khoa học xã hội, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Tác giả đã nghiên cứu các chính sách ASXH, trong đó có đề cập đến việc quản lý của nhà nƣớc đối với các chính sách ASXH tại Việt Nam trong thời gian qua.
Nghiên cứu đã có những đánh giá thực trạng về chính sách ASXH, đồng 5 z thời đã chỉ ra những hạn chế, tồn tại trong hệ thống chính sách ASXH và đƣa ra một số giải pháp để vai trò của nhà nƣớc trong việc thực hiện chính sách ASXH ở Việt Nam trong thời gian tới phát huy hiệu quả cao.TS Mai Ngọc Cƣờng chủ nhiệm,“Cơ sở khoa học của việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở nước ta giai đoạn 2006 – 2015”.02/06-10 đã làm rõ cơ sở lý luận và các quan điểm, chính sách ASXH trong nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN ở nƣớc ta, đó là sự phát triển ASXH sự đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng trƣớc những biến động về kinh tế, xã hội và tự nhiên làm cho họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, bị ốm đau, bệnh tật hoặc tử vong; cho những ngƣời già cô đơn, trẻ em mồ côi, ngƣời tàn tật, những ngƣời yếu thế, những nạn nhân chiến tranh, những ngƣời bị thiên tai dịch họa… Nghiên cứu đã phân tích tình hình thực hiện các chính sách an sinh xã hội của nƣớc ta thời gian qua nhƣ: Chính sách BHXH, BHYT, Bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tự nguyện, trợ giúp xã hội, ƣu đãi ngƣời có công… Nhóm nghiên cứu đã đề xuất với các cơ quan quản lý nhà nƣớc lựa chọn các chƣơng trình an sinh xã hội ƣu tiên, lộ trình thực hiện, điều kiện xây dựng và thực hiện hệ thống tổng thể quốc gia về an sinh xã hội và chính sách an sinh xã hội ở nƣớc ta. Báo cáo (2014)“Những phát hiện từ báo cáo quốc gia: An sinh xã hội cho phụ nữ và trẻ em gái ở Việt Nam”: Báo cáo đã chỉ ra những vấn đề và thách thức giới trong hệ thống chính sách ASXH hiện nay. Trên cơ sở đánh giá thực trạng ASXH cho phụ nữ và trẻ em gái, báo cáo đã đƣa ra một số khuyến nghị và hàm ý chính sách về ASXH cho những đối tƣợng này. Theo nghiên cứu của Ths Tống Thị Song Hƣơng: “Thực trạng chính sách bảo hiểm y tế và định hướng 2015” đã nêu khá rõ quan điểm tiến tới BHYT toàn dân trong đó có bảo hiểm dành cho đối tƣợng trẻ em.
Nghiên cứu 6 z về “Thực trạng chính sách trợ giúp xã hội và định hướng 2015” (TS. Nguyễn Hải Hữu) đã tập trung phân tích thực trạng chính sách trợ giúp xã hội cho các đối tƣợng yếu thế nhƣ: Trẻ em mồ côi cả cha và mẹ, trẻ em bị bỏ rơi, mất nguồn nuôi dƣỡng, ngƣời khuyết tật, ngƣời cao tuổi thuộc hộ nghèo, hoặc ngƣời cao tuổi không có ngƣời từ 80 tuổi trở lên không có lƣơng hƣu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội. Đây là những đối tƣợng hƣởngchính sáchan sinh xã hội. Nghiên cứu về“Phát triển hệ thống an sinh xã hội Việt Nam đến năm 2020” do TS Nguyễn Thị Lan Hƣơng (2013) làm chủ nhiệm đã khái quát lý luận an sinh xã hội, an sinh xã hội ở Việt Nam, xu hƣớng phát triển của chính sách an sinh ở Việt Nam qua các hợp phần: chính sách hỗ trợ tạo việc làm, chính sách bảo hiểm xã hội, nhóm chính sách trợ giúp xã hội, đảm bảo mức tối thiểu các dịch vụ xã hội cơ bản.
Nghiên cứu này đã đƣa ra khuyến nghị về chính sách an sinh xã hội cho trẻ em. Nghiên cứu “Phương pháp tiếp cận và đề xuất phương án mức sống tối thiểu chung và mức sống tối thiểu vùng của Việt Nam” do TS Nguyễn Thị Lan Hƣơng – Viện Khoa học Lao động và Xã hội làm chủ nhiệm đã đƣa ra khái niệm về mức sống tối thiểu chung, vùng, các tiêu thức của mức sống, phƣơng pháp xác định mức sống tối thiểu phụ thuộc vào nhu cầu tối thiểu (nhu cầu lƣơng thực, thực phẩm và nhu cầu phi lƣơng thực, thực phẩm), phƣơng án phân vùng mức sống tối thiểu và một số khuyến nghị cho áp dụng mức sống tối thiểu đến năm 2020. Đề tài cũng đề cập đến các hoạt động của chính sách an sinh xã hội cho đối tƣợng trẻ em tại Việt Nam. Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu và những vấn đề được đặt ra.
Các nghiên cứu nêu trên mới chỉ dừng lại dƣới góc độ đánh giá thực trạng ASXH, chính sách ASXH nói chung cho mọi đối tƣợng. Các nghiên cứu hầu hết tập trung phản ánh các kết quả ASXH trong thời gian qua và định hƣớng cho ASXH trong giai đoạn 2012 – 20120. Chƣa có nghiên cứu, đề tài 7 z luận văn nào đề cập đến quản lý hệ thống chính sách ASXH cho đối tƣợng trẻ em. Vì vậy, luận văn “Quản lý ASXH cho đối tượng trẻ em tại Việt Nam”tập trung nghiên cứu quản lý chính sách ASXH cho trẻ em là cần thiết với những lý luận cơ bản và đặc thù riêng.
Cơ sở lý luận về ASXH và quản lý ASXH cho đối tƣợng trẻ em. Một số khái niệm cơ bản về ASXH. - An sinh xã hội: ASXH thƣờng đƣợc gọi là Social Security và khi dịch ra tiếng Việt, ngoài ASXH thì thuật ngữ này còn đƣợc dịch là bảo đảm xã hội, bảo trợ xã hội, an ninh xã hội, an toàn xã hội… với những ý nghĩa không hoàn toàn tƣơng đồng nhau. Theo nghĩa chung nhất, Social Security là sự đảm bảo thực hiện các quyền của con ngƣời đƣợc sống trong hòa bình, đƣợc tự do làm ăn, cƣ trú, di chuyển, phát biểu chính kiến trong khuôn khổ luật pháp; đƣợc bảo vệ và bình đẳng trƣớc pháp luật; đƣợc học tập, đƣợc có việc làm, có nhà ở; đƣợc đảm bảo thu nhập để thoả mãn những nhu cầu sinh sống thiết yếu khi bị rủi ro, tai nạn, tuổi già…An sinh xã hội có nội dung rất rộng và ngày càng hoàn thiện về nhận thức và thực tiễn thực hiện trên toàn thế giới.
An sinh xã hội theo quan điểm của một số tổ chức quốc tế cũng có mức độ rộng, hẹp và đối tƣợng hƣớng tới khác nhau Theo Liên hiệp Quốc, ASXH tiếp cận trên quyền của ngƣời dân (Điều 25, Hiến chƣơng Liên hiệp quốc năm 1948): “…Mọi người dân và hộ gia đình đều có quyền có một mức sống tối thiểu về sức khỏe và các phúc lợi xã hội bao gồm ăn, mặc, chăm sóc y tế (bao gồm cả thai sản), dịch vụ xã hội thiết yếu và có quyền được an sinh khi có các biến cố về việc làm, ốm đau, tàn tật, góa phụ, tuổi già…hoặc các trường hợp bất khả kháng khác…”. Theo Ngân hàng thế giời (WB) “ASXH là những biện pháp của chính phủ nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu và kiềm 8 z chế được nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh thu nhập”. Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): “ASXH là một sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một số biện pháp đƣợc áp dụng rộng rãi để đƣơng đầu với những khó khăn, các cú sốc về kinh tế và xã hội làm mất hoặc suy giảm nghiêm trọng thu nhập do ốm đau, thai sản, thƣơng tật do lao động, mất sức lao động hoặc tử vong. Cung cấp chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình nận nhân có trẻ em”.
Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB cho rằng): “ASXH là các chính sách, chƣơng trình giảm nghèo và giảm sự yếu thế bởi sự thúc đẩy có hiệu quả thị trƣờng lao động giảm rủi ro của ngƣời dân và nâng cao năng lực của họ để đối phó với rủi ro và suy giảm hoặc mất thu nhập”. ASXH có 5 hợp phần: Các chính sách xã hội và chƣơng trình thị trƣờng lao động; Bảo hiểm xã hội; Trợ giúp xã hội; Quỹ hỗ trợ phát triển cộng đồng; Bảo vệ trẻ em. Ở Việt Nam, thuật ngữ “An sinh xã hội” đã xuất hiện vào những năm 70 trong một số cuốn sách nghiên cứu về pháp luật của một số học giả Sài Gòn. Sau năm 1975, thuật ngữ này đƣợc dùng nhiều và đặc biệt là từ năm 1995 trở lại đây nó đƣợc dùng khá rộng rãi hơn.