phần mở đầu , kế t luâ ̣n và danh mu ̣c tài liê ̣u tham khảo , luâ ̣n văn gồ m 2 chương, 7 tiết. 11 z Chƣơng 1 TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ THƢ̣C HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI 1. Mô ̣t số khái niêm ̣ 1. Chính sách an sinh xã hội 1.
Khái niệm an sinh xã hội Khái niệm ASXH ra đời từ cuối thế kỷ XIX ở các nước công nghiệp phát triển. Hiện nay, ASXH đã phát triển rộng khắp toàn cầu, được các quốc gia trên thế giới tiếp cận và từng bước tiến hành thực hiện một cách phù hợp theo trình độ phát triển kinh tế, xã hội. Vì vậy, khái niệm ASXH có nhiều cách hiểu khác nhau dưới nhiều phương diện tiếp cận, nhìn nhận, đánh giá khác nhau. Theo quan niệm của Ngân hàng thế giới (WB) ASXH là biê ̣n pháp công cô ̣ng nhằ m giúp cho các cá nhân , hô ̣ gia đin ̀ h và cô ̣ng đồ ng đương đầ u và kiề m chế đươ ̣c nguy cơ tác đô ̣ng đế n thu nhâ ̣p nhằ m giảm tính dễ bi ̣tổ n thương và những bấ p bênh thu nhâ ̣p.
Quan niê ̣m này nhấ n ma ̣nh đế n các giải pháp kiề m chế nguy cơ làm giảm thu nhâ ̣p của cá nhân, gia đình và cô ̣ng đồ ng. Theo tổ chức Lao đô ̣ng quố c tế (ILO) ASXH là sự cung cấ p phúc lơ ̣i cho các hô ̣ gia điǹ h và các cá nhân thông qua cơ chế của nhà nước hoă ̣c tâ ̣p thể nhằ m ngăn chă ̣n sự suy giảm mức số ng hoă ̣c cải thiê ̣n mức số ng thấ p. Quan niê ̣m này nhấ n mạnh khía cạnh phân phối phúc lợi , bảo hiểm và mở rộng việc làm cho những đối tươ ̣ng ở khu vực kinh tế không chính thức. Ngân hàng Phát triển Châu Á (AĐB) cũng quan niệm ASXH là “mô ̣t hê ̣ thố ng chính sách công nhằm giảm nh ẹ tác động bất lợi của những biến động đối với các hô ̣ gia đình và các cá nhân.
Quan niê ̣m này nhấ n ma ̣nh vai trò của Nhà nước trong viê ̣c đảm bảo ASXH, giảm nhẹ những tác động những bất lợi đến các cá nhân và hộ gia đình” [22, tr. Ở Việt Nam, mặc dù ASXH là một vấn đề mới mẻ nhưng cũng đã dành được sự quan tâm của nhiều học giả và các nhà quản lý nghiên cứu về vấn đề này. Theo tác giả Hoàng Chí Bảo: “ASXH là sự an toàn của cuộc sống con người, từ cá nhân đến cộng đồng, tạo tiền đề và động lực cho phát triển con người và xã 12 z hội. ASXH là những bảo đảm cho con người tồn tại (sống) như một con người và phát triển các sức mạnh bản chất người, tức là nhân tính trong hoạt động, trong đời sống hiện thực của nó như một chủ thể mang nhân cách” [8, tr 18].
Trong Chiến lược an sinh xã hội Việt Nam thời kỳ 2011 - 2020 và Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 BCHTƯ khóa XI khái niệm ASXH là “Hệ thống các chính sách và chương trình do Nhà nước và các đối tác xã hội thực hiện nhằm bảo đảm mức tối thiểu về thu nhập, sức khỏe và các phúc lợi xã hội, nâng cao năng lực của cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng trong quản lý và kiểm soát các rủi ro do mất việc làm, tuổi già, ốm đau, thiên tai, chuyển đổi cơ cấu, khủng hoảng kinh tế dẫn đến giảm hoặc bị mất thu nhập và giảm khả năng tiếp cận đến các dịch vụ xã hội cơ bản” [19, tr. Trong cuố n Tìm hiể u mô ̣t số thuâ ̣t ngữ Văn kiê ̣n Đa ̣i hô ̣i Đa ̣i biể u toàn quố c lầ n thứ XII của Đảng thì ASXH được quan niệm là “Một hệ thống chính sá ch và giải pháp nhằm bảo vệ mức sống tối thiểu của người dân trước những rủi ro và tác đô ̣ng bấ t thường về kinh tế , xã hội, môi trường và không ngừng nâng cao đời số ng vâ ̣t chấ t và tinh thầ n cho nhân dân” [68, tr. Như vâ ỵ , ASXH là mô ̣t liñ h vực rô ̣ng lớn , phức ta ̣p , khó có thể đưa ra một đinh ̣ nghiã đáp ứng đươ ̣c tấ t cả các nô ̣i dung trong điề u kiê ̣n kinh tế , xã hội, chính trị, truyề n thố ng dân tô ̣c , tôn giáo ở mỗi nước khác nhau hoă ̣c trong cá c giai đoa ̣n lịch sử ở từng nước. Dựa trên các cơ sở quan ni ệm của các nghiên cứu trên , theo tác giả: ASXH là sự can thiệp của Nhà nước và xã hội bằng các biện pháp kinh tế để hạn chế, phòng ngừa và khắc phục rủi ro cho các thành viên trong cộng đồng do bị mất hoặc giảm thu nhập bởi các nguyên nhân ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời, đảm bảo chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con.
ASXH được thể hiện thông qua hệ thống chính sách BHXH, BHYT, XĐGN, CTXH và ƯĐXH. Mục đích của ASXH là “tạo ra những mạng lưới bảo vệ an toàn cho mọi thành viên trong cô ̣ng đồ ng xã hô ̣i trước những rủi ro của cuô ̣c số ng. Bản chất của ASXH là đảm bảo thu nhập và đời sống cho c ác công dân trong xã hội , vì thế nó mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc. Đối tượng của ASXH là những thành viên trong cộng đồ ng trước những rủi ro trong cuô ̣c số ng do những tác đô ̣ng bấ t thường về kinh tế , 13 z xã hội , môi trườn g - đă ̣c biê ̣t là những nhóm bi ̣tổ n thương , người nghèo , vùng nghèo, vùng dân tộc , miề n núi , nông thôn.
Phương thức hoa ̣t đô ̣ng của ASXH là thông qua các chính sách , biê ̣n pháp của Nhà nước và cô ̣ng đồ ng xã hô ̣i trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ đa ̣o, trụ cô ̣t” [68, tr. Khái niệm chính sách an sinh xã hội Chính sách xã hội là “một loại hình chính sách được thể chế hóa bằng pháp luật Nhà nước, là hệ thống quan điểm, chủ trương, phương hướng, biện pháp để giải quyết các vấn đề xã hội đặt ra trong một thời gian, không gian nhất định, trước hết là những vấn đề xã hội liên quan đến đời sống con người theo nguyên tắc tiến bộ và công bằng xã hội, nhằm góp phần ổn định và phát triển đất nước. Chính sách xã hội cơ bản gồm các chính sách dân số, chính sách gia đình, chính sách sức khỏe, chính sách giai cấp, chính sách an sinh xã hội” [24, tr. Ở một khía cạnh khác có thể hiểu: “Chính sách ASXH là một chính sách xã hội cơ bản của Nhà nước nhằm thực hiện chức năng phòng ngừa, hạn chế, khắc phục rủi ro, đảm bảo an toàn thu nhập và cuộc sống cho các thành viên trong xã hội [70, tr.
Tương tự như vậy, chính sách ASXH là “những biện pháp bảo vệ của Nhà nước nhằm phòng ngừa, hạn chế và khắc phục những rủi ro cho các thành viên của mình khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do các nguyên nhân ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và thất nghiệp, già cả không còn sức lao động hoặc vì nguyên nhân khách quan khác thông qua các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, ưu đãi xã hội và trợ giúp xã hội” [27, tr. Từ sự phân tích trên chúng ta có thể hiểu, chính sách ASXH là hệ thống các chính sách can thiệp của Nhà nước và sự hỗ trợ của tổ chức hay tư nhân nhằm giảm mức đô ̣ nghèo và tổ n thương , nâng cao năng lực tự vê ̣ của người dân và cô ̣ng đồ ng trước những rủi ro hay nguy cơ giảm , mấ t thu nhâ ̣p, bảo đảm ổn định , phát triển và công bằ ng xã hô ̣i. Chính sách ASXH có hai chức năng cơ b ản: Thứ nhấ t , đảm bảo an toàn cho mọi thành viên trong xã hội ở mức tối thiểu về thu nhập , dịch vụ y tế và xã hội để cho phép ho ̣ số ng mô ̣t cuô ̣c số ng xã hô ̣i có ý nghiã. Thứ hai, duy trì thu nhâ ̣p , khi các thành viên xã hô ̣i đang hoa ̣t đô ̣ng kinh tế hoă ̣c mo ̣i công dân khi nghỉ hưu , cho 14 z phép họ duy trì được mức sống hiện tại trong các trường hợp thất nghiệp , ốm đau, thai sản, tuổ i già, tàn tật, mà không có khả năng tạo thu nhập.
Các hoạt động ASXH tập trung vào ba lĩnh vực chủ yếu: phòng ngừa rủi ro, giảm thiểu rủi ro và khắc phục rủi ro trên cơ sở bốn trụ cột kinh tế là: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và cứu trợ xã hội, ưu đaĩ xã hô ̣i , xóa đói giảm nghèo. Thực hiê ̣n chính sách an sinh xã hội 1. Thực hiê ̣n chính sách Thực hiê ̣n chính sách đươ ̣c hiể u là “quá trình biế n các chính sách thành những kế t quả trên thực tế thông qua các hoa ̣t đô ̣ng có tổ chức trong bô ̣ máy Nhà nước , nhằ m hiê ̣n thực hóa những mu ̣c tiêu mà chính sách đề ra ; là toàn bộ quá trình hoạt đô ̣ng của chủ thể theo các cách thức khác nhau nhằ m hiê ̣n thực hóa nô ̣i dung chin ́ h sách một cách có hiệu quả” [40, tr. Vì vậy, tầ m quan tro ̣ng của thực hiê ̣n chính sách chính là để giải quyế t những vấ n đề bức xúc trong xã hô ̣i đă ̣t ra.
Nế u thiế u công đoa ̣n này thì chu trin ̀ h chin ́ h sách không thể tồ n ta ̣i ; nế u không có quá trình thực hiê ̣n chính sách với những kế t quả thì những chủ trương , chính sách chỉ là khẩu hiệu. Nế u công tác tổ chức thực hiê ̣n chính sách không tốt sẽ dẫn đến thiếu lòng tin. Quá trình thực hiện chính sách sẽ góp phần hoàn chỉnh, bổ sung chính sách và hoàn thiện chính sách phù hợp với thực tiễn, đáp ứng yêu cầ u cuô ̣c số ng.