Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với phụ nữ và khái quát đặc điểm huyện Đông Sơn. Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với phụ nữ tại huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Chương 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với phụ nữ tại huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. 14 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI PHỤ NỮ VÀ KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM HUYỆN ĐÔNG SƠN 1.
Khái niệm an sinh xã hội Khái niệm “An sinh xã hội” (tên tiếng Anh: Social Security) đƣợc ra đời từ cuối thế kỷ XIX ở các nƣớc công nghiệp phát triển và đến nay đã lan rộng trên toàn thế giới. An sinh xã hội có nội dung rất rộng và ngày càng hoàn thiện về phạm vi, đối tƣợng và chức năng. Theo quan điểm của một số tổ chức quốc tế và các nhà nghiên cứu thì khái niệm An sinh xã hội cũng có mức độ rộng, hẹp và đối tƣợng hƣớng tới khác nhau: Trong Hiến chƣơng Liên hiệp quốc năm 1948 tại Điều 25, an sinh xã hội tiếp cận trên quyền của ngƣời dân:“Ai cũng có quyền được hưởng một mức sống khả quan về phương diện sức khỏe và an lạc cho bản thân và gia đình kể cả thức ăn, quần áo, nhà ở, y tế và những dịch vụ cần thiết; ai cũng có quyền được hưởng an sinh xã hội trong trường hợp thất nghiệp, đau ốm, tật nguyền, góa bụa, già yếu, hay thiếu phương kế sinh nhai do những hoàn cảnh ngoài ý muốn. Sản phụ và trẻ em được đặc biệt săn sóc và giúp đỡ.
Tất cả các con, dù là chính thức hay ngoại hôn, đều được hưởng bảo trợ xã hội như nhau” [106]. Theo Ngân hàng thế giới (WB) “An sinh xã hội là những biện pháp của chính phủ nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu và kiềm chế được nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh thu nhập” [1]. Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): “An sinh xã hội là một sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một số biện pháp được áp dụng rộng rãi để đương đầu với những khó khăn, các cú sốc về kinh 15 tế và xã hội làm mất hoặc suy giảm nghiêm trọng thu nhập do ốm đau, thai sản, thương tật do lao động, mất sức lao động hoặc tử vong. Cung cấp chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình nạn nhân có trẻ em” [43].
Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) cũng cho rằng “An sinh xã hội là các chính sách, chương trình giảm nghèo và giảm yếu thế bởi sự thúc đẩy có hiệu quả thị trường lao động giảm thiểu rủi ro của người dân và nâng cao năng lực của họ để đối phó với rủi ro và suy giảm hoặc mất thu nhập” [55]. Ở Việt Nam, khái niệm An sinh xã hội cũng đƣợc nhiều học giả và nhà nghiên cứu quan tâm với nhiều ý kiến khác nhau: Tác giả Mai Ngọc Cƣờng lại cho rằng chúng ta cần phải tiếp cận theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp của khái niệm này để thấy hết đƣợc bản chất của ASXH: Theo nghĩa rộng: ASXH là sự đảm bảo thực hiện các quyền để con ngƣời đƣợc an bình, đảm bảo an ninh, an toàn trong xã hội [30, tr. Theo nghĩa hẹp: ASXH là sự đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do họ bị giảm, không còn khả năng lao động hoặc mất việc làm; cho những ngƣời già cô đơn, trẻ em mồ côi, ngƣời tàn tật, những ngƣời yếu thế, ngƣời bị thiên tai dịch họa [30, tr. Thủ tƣớng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng “An sinh xã hội và phúc lợi xã hội là hệ thống các chính sách và giải pháp nhằm vừa bảo vệ mức sống tối thiểu của người dân trước những rủi ro và tác động bất thường về kinh tế, xã hội và môi trường; vừa góp phần không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân” [33, tr.
Trên cơ sở nghiên cứu những quan điểm của các tổ chức, các nhà nghiên cứu khoa học, theo tác giả:“An sinh xã hội là mạng lƣới các chƣơng trình, hệ thống chính sách cụ thể từ nhà nƣớc hoặc các tổ chức xã hội nhằm 16 trợ giúp, hỗ trợ, bảo vệ các cá nhân trong toàn xã hội, đặc biệt là các cá nhân gặp phải rủi ro hay khó khăn trong cuộc sống, bảo đảm mức sống tối thiểu và góp phần nâng cao đời sống, thu hẹp khoảng cách của họ với xã hội, từ đó thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ xã hội”. Chính sách an sinh xã hội 1. Khái niệm chính sách an sinh xã hội Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công và khai sinh ra nƣớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Đảng và Nhà nƣớc ta đã nhận thức về chính sách ASXH, tiếp cận từ góc độ quyền con ngƣời và thực hiện chính sách ASXH đƣợc xem là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. “Người lao động được bảo đảm quyền việc làm, nghỉ ngơi, BHXH, cứu tế; phụ nữ được nghỉ trước khi đẻ…”.
Hiến pháp năm 1948 đã xác định. Hiến pháp năm 1992 đã nêu rõ trách nhiệm của Nhà nƣớc trong việc đảm bảo xã hội:“Nhà nước thực hiện chế độ BHXH đối với công chức nhà nước và người làm công ăn lương, khuyến khích phát triển các hình thức BHXH khác đối với người lao động” [107]. Sau khi thống nhất đất nƣớc bƣớc vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng và Nhà nƣớc ta vẫn luôn xác định công tác ASXH đảm bảo đời sống cho ngƣời nghèo và ngƣời có công là một trong những vấn đề cần quan tâm hàng đầu; Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII đã xác định coi phát triển kinh tế là cơ sở và tiền đề để thực hiện các chính sách xã hội, thực hiện tốt chính sách xã hội là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế [91]. Cƣơng lĩnh năm 2011, dựa trên những nội dung cƣơng lĩnh năm 1991 đã có những bổ sung, phát triển một số điểm mới quan trọng, xác định rõ hơn định hƣớng, nhƣ: Gắn nghĩa vụ với quyền lợi; cống hiến với hƣởng thụ; lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể cộng đồng xã hội.
Khuyến khích làm giàu hợp 17 pháp đi đôi với xóa nghèo bền vững; giảm dần tình trạng chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, miền, tầng lớp dân cƣ. Tạo môi trƣờng để ngƣời lao động có việc làm tốt hơn [40]. “Thực hiện có hiệu quả tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển” bảo đảm ASXH đã đƣợc khẳng định ngay trong phần tiêu đề của Báo cáo chính trị trình Đại hội XI của Đảng [37, tr. Đảng ta đã có nhìn nhận mới về ASXH đó là kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế và thực hiện chính sách ASXH, đảm bảo sự tiến bộ, công bằng xã hội và kinh tế càng phát triển thì xã hội ngày càng phải đƣợc an sinh.
Phát triển hệ thống ASXH phù hợp với phát triển kinh tế chính là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và là một trong những tiêu chí của định hƣớng XHCN; đầu tƣ cho ASXH cũng chính là đầu tƣ cho con ngƣời, đầu tƣ cho phát triển. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã thể hiện quan điểm trong chủ trƣơng, đƣờng lối xây dựng hệ thống ASXH với nhận thức mới: “Tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp xã hội và cứu trợ xã hội đa dạng, linh hoạt, có khả năng bảo vệ, giúp đỡ mọi thành viên trong xã hội, nhất là các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương, vượt qua khó khăn hoặc các rủi ro trong đời sống” [37, tr. Chính sách ASXH là một bộ phận của hệ thống chính sách xã hội. Hệ thống chính sách ASXH ở nƣớc ta gồm: ƣu đãi xã hội đối với những ngƣời có công lao đối với đất nƣớc; bảo hiểm xã hội đối với ngƣời lao động trong các thành phần kinh tế; cứu trợ xã hội đối với những ngƣời không may bị rủi ro, khó khăn hoặc hiểm nghèo.
Chính sách ASXH không chỉ là bảo vệ, giúp đỡ mà còn là sự thể hiện nghĩa vụ, trách nhiệm của Nhà nƣớc, của cộng đồng đối với một bộ phận dân cƣ. Do đó, chính sách ASXH có vị trí đặc biệt quan trọng trong chính sách xã hội nói riêng và trong hệ thống chính sách bảo đảm xã hội nói chung. Đó là 18 phƣơng tiện, công cụ quản lý có hiệu lực mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần nhằm phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro đối với các thành viên trong xã hội. Từ những quan niệm, ta có thể định nghĩa về chính sách ASXH nhƣ sau: “Chính sách an sinh xã hội là tập hợp các quyết định chính trị - pháp lý có liên quan nhằm lựa chọn mục tiêu, giải pháp và công cụ chính sách để giải quyết các vấn đề liên quan theo mục tiêu tổng thể của chính sách đã được xác định” [3].
Bản chất của chính sách an sinh xã hội ASXH là góp phần giúp đỡ những ngƣời dân trong xã hội không may gặp phải những rủi ro hoặc biến cố đƣợc đảm bảo thu nhập và ổn định đời sống. Cách thức hoạt động thông qua hoạt động cộng đồng. Với mong muốn tạo nên “an sinh” trong xã hội, mỗi cá nhân đều đƣợc hƣởng sự bình đẳng, giúp đỡ từ cộng đồng mang tính nhân văn sâu sắc tạo nên một xã hội công bằng, dân chủ, phát triển bền vững. Có thể thấy rõ bản chất của ASXH từ các khía cạnh sau: Thứ nhất, ASXH là biểu hiện rõ rệt của quyền con ngƣời Mục tiêu của ASXH là tạo ra các lớp lƣới bảo vệ cho từng cá nhân trong cộng đồng, giúp đỡ họ trong các trƣờng hợp gặp khó khăn, bị suy giảm về thu nhập đột ngột nhƣ bị thiên tai hỏa hoạn, bệnh tật, ốm đau.
những biến cố bất ngờ xảy ra. ASXH đƣợc thể hiện qua nhiều hình thức và các biện pháp khác nhau với mong muốn thực hiện công bằng xã hội và san sẻ trách nhiệm với xã hội. Nhƣng tập trung vào ba vấn đề chủ yếu: BHXH là trụ cột cơ bản và cần thiết bảo đảm cho sự phát triển hệ thống ASXH. Nếu BHXH hoạt động có hiệu quả thì mới có thể có một nền ASXH vững mạnh.