Chương 1: Cơ sở lý luận và địa bàn nghiên cứu. Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp đối với người lao động thất nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NỘI DUNG CHƢƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU. Các khái niệm làm việc 1.
Thất nghiệp Thất nghiệp được hiểu là tình trạng người lao động muốn có việc làm mà không tìm được việc làm (từ Hán - Việt thất: mất mát, nghiệp: việc làm) [30,tr. Tỷ lệ thất nghiệp là phần trăm số người lao động không có việc làm trên tổng số lực lượng lao động xã hội.Lịch sử của tình trạng thất nghiệp chính là lịch sử của công cuộc công nghiệp hóa. Ở nông thôn, mặc dù có tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp một phần, làm việc ít thời gian ở nông thôn, nhưng thất nghiệp không bị coi là vấn đề nghiêm trọng [30,tr. Theo John Maynard Keynes – một nhà kinh tế học được coi là có nghiên cứu khá thành công về thất nghiệp cho rằng: “Vấn đề thất nghiệp không phải là hiện tượng độc lập của nền kinh tế mà đó là kết quả của các quy luật nhất định để đạt được sự cân bằng của hệ thống kinh tế” [30,tr.
Theo ông nạn thất nghiệp tồn tại dưới dạng bắt buộc mà trong đó “tổng cung về lao động của những người lao động muốn làm việc với tiền lương danh nghĩa tại một thời điểm lớn hơn khối lượng việc làm hiện có” [30,tr. Samuelson – một trong số các nhà kinh tế học hiện đại đã đưa ra lý thuyết mới về thất nghiệp: “Đó là hiện tượng người có năng lực lao động không có cơ hội tham gia lao động xã hội, bị tách khỏi tư liệu sản xuất. Và trong nền kinh tế thị trường, luôn luôn tồn tại một bộ phận người lao động bị thất nghiệp. Tỷ lệ thất nghiệp cao hay thấp phụ thuộc rất nhiều vào khả năng giải quyết việc làm của Chính phủ và sự đấu tranh của giới thợ đối với giới chủ” [30,tr.
Các quan điểm khác nhau đúng theo những cách khác nhau đã góp phần đưa ra một cái nhìn toàn diện về thất nghiệp. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ILO đã đưa ra bốn tiêu chí cơ bản để xác định người thất nghiệp đó là: trong độ tuổi lao động; có khả năng lao động đang không có việc làm, đang đi tìm việc làm. Nhìn chung, các tiêu chí này mang tính khái quát cao, đã được nhiều nước tán thành và lấy làm cơ sở để vận dụng tại quốc gia mình khi đưa ra những khái niệm về người thất nghiệp [30,tr. Ví dụ như: Trong Luật bảo hiểm thất nghiệp ở CHLB Đức (1969) định nghĩa: “Người thất nghiệp là người lao động tạm thời không có quan hệ lao động hoặc chỉ thực hiện công tác ngắn hạn”.
Ở Trung Quốc người thất nghiệp là: “Người trong độ tuổi lao động, có sức lao động, mong muốn tìm việc nhưng không có việc”. Ở Pháp, người thất nghiệp “là người không có việc làm, có điều kiện làm việc và đang tìm việc làm” [30,tr. Việc đưa ra một khái niệm hoàn chỉnh về “người thất nghiệp” là rất quan trọng, từ đây sẽ tạo một cơ sở chung giúp cơ quan Nhà nước có những thống kê chính xác về tình trạng thất nghiệp, và đề ra những chính sách khắc phục tình trạng thất nghiệp và những hậu quả của nó phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của quốc gia. Ở Việt Nam từ khi chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, thuật ngữ “thất nghiệp” được đề cập đến trong những văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước ta (khởi đầu là Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII) và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn 2001- 2010, giai đoạn 2010 -2020 [30,tr.
Tại khoản 4 điều 3 Luật BHXH năm 2006 thì “người thất nghiệp” là: “người đang đóng bảo hiểm thất nghiệp mà bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc nhưng chưa tìm được việc làm” [25,tr. Như vậy, có thể tham khảo các tiêu chí của ILO để xây dựng khái niệm về người thất nghiệp theo hướng toàn diện hơn, chẳng hạn: Người thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động và có khả năng làm việc, hiện không có việc làm đem lại thu nhập, đang tích cực tìm việc và sẵn sàng làm việc. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Bảo hiểm thất nghiệp Bảo hiểm thất nghiệp là chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi bị mất việc làm, hỗ trợ người lao động học nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp [26,tr.
Nguồn tài chính hỗ trợ cho người thất nghiệp được lấy từ quỹ BHTN. Quỹ BHTN là quỹ tiền tệ tập trung, được hình thành từ sự đóng góp của các bên tham gia BHTN, theo nguyên tắc cộng đồng chia sẻ rủi ro, không vì mục đích lợi nhuận. Quỹ này được dùng để trợ cấp cho người lao động bị thất nghiệp, nhằm đảm bảo ổn định đời sống cho họ và gia đình [26,tr. Ở đây có một số điểm cần nhấn mạnh: Một là, mức hỗ trợ thu nhập dựa trên cơ sở đóng góp của người lao động trước khi bị thất nghiệp; Hai là, người lao động tham gia BHTN, khi thất nghiệp sẽ được hỗ trợ tư vấn giới thiệu việc làm, đào tạo nghề để có thể sớm tìm được việc làm, gia nhập lại thị trường lao động.
Bên cạnh việc hỗ trợ một khoản tài chính đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao động trong thời gian mất việc làm thì mục đích chính của BHTN là thông qua các hoạt động đào tạo nghề, tư vấn, giới thiệu việc làm, sớm đưa những lao động thất nghiệp tìm được việc làm mới thích hợp và ổn định. Như vậy, Bảo hiểm thất nghiệp là sự hỗ trợ một phần thu nhập cho người lao động bị mất thu nhập do thất nghiệp và hỗ trợ họ sớm quay trở lại thị trường lao động .Chính sách bảo hiểm thất nghiệp Theo từ điển Bách khoa Việt Nam“ Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ, chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó, bản chất nội dung và phương hướng của chính sách này tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Từ điển Bách khoa Việt Nam xác định“ Chính sách xã hội là một bộ phận cấu thành chính sách chung của một chính đảng hay chính quyền nhà nước trong việc giải quyết và quản lý các vấn đề xã hội. Chính sách xã hội phải hướng tới sự công bằng xã hội, bảo đảm sự bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các thành phần kinh tế trước pháp luật” [33,tr.
Chính sách xã hội thực chất là một hệ thống các chính sách. Mỗi chính sách xã hội có đối tượng, phạm vi, nội dung điều chỉnh nhất định và nhằm vào mục tiêu nhất định trong việc giải quyết một vấn đề xã hội đặt ra. Chính sách BHTN mang đầy đủ những đặc trưng của chính sách xã hội và là một hợp phần quan trọng của hệ thống chính sách xã hội. Có thể hiểu chính sách BHTN là một trong những chính sách an sinh xã hội, thực hiện chức năng hỗ trợ phần thu nhập của NLĐ khi bị mất việc làm.
Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 1. Lý thuyết hệ thống: Người có công khởi sướng lý thuyết hệ thống tổng quát là Ludwig von Bertalanffy(1901-1972) nhà sinh vật học người Áo, một nội dung cơ bản của lý thuyết tổng quát là sự phát hiện và làm rõ đặc điểm, tính chất của các hệ thống đóng và các hệ thống mở [29,tr. Bertalanffy định nghĩa: một hệ thống đóng là khi hệ thống không có vật chất nào xâm nhập vào hay không có vật chất nào thoát ra khỏi nó. Một hệ thống mở là khi hệ thống có dòng vào và dòng ra và nhờ vậy có sự biến đổi của các vật chất hợp thành.
Với định nghĩa như vậy, hệ thống đóng là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của vật lý học và hóa học vô cơ. Còn hệ thống mở là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khoa học về các hệ thống sống, của khoa học xã hội và khoa học nhân văn. Lý thuyết nhấn mạnh các thuộc tính như tính tự điều tiết, tự tổ chức rất cần được phát huy để đối phó với những rủi ro như sự vô cảm, vô trách nhiệm có thể xảy ra trong quá trình phân hóa và biến đổi xã hội [29,tr. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong tiến trình thực hiện công tác xã hội, nhân viên công tác xã hội phải vận dụng rất nhiều kỹ năng.
Lý thuyết hệ thống chính là một lý thuyết cơ bản được vân dụng trong công tác xã hội. Đại diện cho những người theo thuyết này là Hasson, macoslee, Siporin.Trong đó 2 tác phẩm nổi tiếng về ứng dụng những quan điểm hệ thống trong thực hành công tác xã hội là Goldstein, Pincus, minahan ( Phạm Huy Dũng, 2009). Những hệ thống mà nhân viên công tác xã hội làm việc là những hệ thống đa dạng: hệ thống gia đình, cộng đồng, xã hội.Hay còn được phân thành các loại hệ thống như sau: Hệ thống tự nhiên: gia đình, bạn bè, người đưa thư.; Hệ thống chính thức: nhóm cộng đồng, tổ chức công đoàn.; Hệ thống xã hội: bệnh viện, trường học, các thiết chế xã hội, hay hệ thống chính sách. Lý thuyết hệ thống trong công tác xã hội ứng dụng các khái niệm về hệ thống nói chung coi mỗi hệ thống có một ranh giới nhất định, một hệ thống có thể bao gồm các hệ thống phụ và nằm trong một hệ thống lớn hơn; các hệ thống có thể trao đổi với nhau (hệ thống mở) hay khép kín (hệ thống đóng); một tác động đầu vào sẽ dẫn tới một sản phẩm đầu ra qua hệ thống, một hệ thống có thể ổn định hay biến động [17, tr.
Theo định nghĩa của lý thuyết công tác xã hội hiện đại:“ Hệ thống là một tập hợp các thành tố được sắp xếp có trật tự và liên hệ với nhau để hoạt động thống nhất”. Lý thuyết này nói lên mối liên kết tất yếu trong mạng xã hội các cá nhân và đoàn thể vì không ai có thể tồn tại riêng lẻ mà phụ thuộc vào những hệ thống trong môi trường xã hội trực tiếp của họ như tổ chức đoàn thể, đồng nghiệp… Vì vậy, công tác xã hội chú trọng tới hệ thống như vậy.