CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP 1. Khái quát về bảo hiểm thất nghiệp 1. Khái niệm về bảo hiểm thất nghiệp Lao động được xem là yếu tố gắn liền với đời sống mỗi người. Người lao động luôn mong muốn được thuận lợi, tìm được công việc tốt và thu nhập ổn định.
Tuy nhiên, không phải lúc nào mà nhu cầu tìm việc của các cá nhân trong xã hội đều được đáp ứng, nhất là ở bối cảnh kinh tế thị trường khi mà yếu tố cạnh tranh và đào thải rất cao. Trong một thời điểm bất kỳ thì luôn tồn tại một bộ phận người không có việc làm, chính vì vậy quan niệm về thất nghiệp ra đời. Có nhiều định nghĩa về thất nghiệp: “Thất nghiệp là tình trạng tồn tại một số người trong độ tuổi lao động, muốn tìm việc nhưng không thể tìm được việc làm với mức lương phổ biến trong thị trường lao động”1 – theo Tổ chức lao động Quốc tế ILO định nghĩa, cho rằng người thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng do không có việc làm, đang đi tìm việc làm và nếu có điều kiện thì họ làm ngay. Theo quan điểm nhà kinh tế học Keynes: “Thất nghiệp do thiếu cầu hoặc thất nghiệp chu kỳ là dạng thất nghiệp không tự nguyện và mất cân bằng, nó xảy ra do tổng cầu thấp và quá trình điều chỉnh tiền lương diễn ra chậm chạp”2, quan điểm này phản ánh tình trạng dư thừa lực lượng lao động khi mà nhu cầu về lao động giảm thấp.
Hay dưới góc nhìn kinh tế học “thất nghiệp là tình trạng người lao động muốn có việc làm mà không tìm được việc làm hoặc không được tổ chức, công ty và cộng đồng nhận vào làm. Tỷ lệ thất nghiệp là phần trăm số người lao động không có việc làm trên tổng số lực lượng lao động xã hội”.3 Việc xác định thất nghiệp ở mỗi nơi với mỗi quan điểm tuy khác nhau về tuổi tác, thời gian và tình trạng mất việc, nhưng đối tượng cần phải thỏa mãn đồng thời: có khả năng lao 1 Giáo trình Bảo hiểm, Trường Đại học Ngân hàng TP. Đặng Văn Dân, trang 311 2 Giáo trình Bảo hiểm, Trường Đại học Ngân hàng TP. Đặng Văn Dân, trang 312 3 https://vi.org/wiki/Th%E1%BA%A5t_nghi%E1%BB%87p 9 động, đang không có việc làm, đang đi tìm việc làm.
Thất nghiệp là hiện tượng thường thấy trong các nền kinh tế thị trường ở các quốc gia. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) thì thất nghiệp là tình trạng tồn tại một số người trong độ tuổi lao động, muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm với mức lương phổ biến trong thị trường lao động. Thất nghiệp kéo theo nhiều hệ lụy ảnh hưởng không chỉ đến người lao động mà đến toàn xã hội; gây ra những hậu quả to lớn, ảnh hưởng ở nhiều mặt trong đời sống kinh tế - xã hội. Trước hết tác động đến bản thân người thất nghiệp, khi rơi vào tình trạng thất nghiệp người lao động phải gánh chịu những tổn thất về vật chất lẫn tin thần như: thu nhập bị giảm sút hoặc không còn, cuộc sống gia đình gặp nhiều khó khăn, tâm lý căng thẳng, buồn phiền, trầm cảm và có khi dẫn đến tự sát.
Thất nghiệp còn làm cho người lao động mất đi khả năng nâng cao kinh nghiệm, kỹ năng nghề nghiệp; cản trở cơ hội thăng tiến; nâng cao thu nhập cho bản thân và đóng góp cho xã hội. Tiếp theo là tác động về mặt kinh tế quốc gia, thất nghiệp còn kìm hãm sức sản xuất, khi thất nghiệp nhiều thì nguồn nhân lực của xã hội sẽ bị lãng phí và không tận dụng hết, số người lao động giảm và sản lượng sản xuất sụt giảm dẫn đến nguồn ngân sách từ thuế giảm sút. Giải quyết được tình trạng thất nghiệp thì mới đảm bảo được sản xuất, thương mai, dịch vụ phát triển, kinh tế mới đi lên và cũng tạo điều kiện để phát triển, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực. Kinh tế phát triển sẽ tạo điều kiện để giải quyết tốt vấn nạn thất nghiệp và ngược lại.
Thất nghiệp gia tăng kéo theo các khoản chi phí giải quyết các tệ nạn xã hội gia tăng, chi tiền trợ cấp thất nghiệp cũng tăng nên làm tăng thêm gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Ngoài ra, tỷ lệ thất nghiệp cao, thu nhập người lao động sẽ giảm, chi tiêu cũng có xu hướng giảm theo dẫn đến nhu cầu tiêu dùng của xã hội giảm. Thất nghiệp tăng lên và liên tục sẽ tác động làm tăng trưởng kinh tế thấp hoặc không có tăng trưởng, kinh tế khó khăn và tình trạng suy thoái càng trầm trọng hơn. Thất nghiệp đồng nghĩa với việc có một bộ phận nguồn nhân lực không được sử dụng, đang bị nhàn rỗi, lãng phí và gây tác động tiêu cực, thậm chí triệt tiêu tăng trưởng kinh tế.
Cuối cùng về mặt xã hội, thất nghiệp dẫn đến các tiêu cực xã hội, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Thất nghiệp cũng là một nguyên nhân khiến 10 xã hội bất ổn, khi tỷ lệ thất nghiệp gia tăng tức là số lượng người trong độ tuổi lao động không có việc làm rất lớn, người lao động không có việc sẽ sinh ra tâm lý bất mãn và có suy nghĩ tiêu cực. Nhất là tỷ lệ thất nghiệp ở tuổi thanh niên cao sẽ ảnh hưởng về mặt xã hội, làm cho tệ nạn xã hội xảy ra tăng cao và phức tạp, tội phạm ngày càng nhiều và càng nguy hiểm. Thất nghiệp gián tiếp phản ánh mức độ lành mạnh, sự ổn định và sự phát triển bền vững của xã hội.
Vấn đề tạo công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp là vấn đề khó khăn đặt ra đối với toàn xã hội. Vì vậy, thất nghiệp không chỉ ảnh hưởng đến đời sống người lao động và gia đình họ mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến toàn thể nền kinh tế - xã hội của quốc gia. Với ý nghĩa và tác động của vấn đề thất nghiệp trên, việc đưa ra những giải pháp nhằm xử lý, đối phó với tình trạng thất nghiệp luôn là vấn đề được các quốc gia coi trọng, quan tâm và tìm hướng giải quyết. Dựa vào các điều kiện riêng về kinh tế, về xã hội mà mỗi nước có những biện pháp, định hướng giải quyết khác nhau.
Trong rất nhiều các giải pháp được các nước triển khai được xem là hữu hiệu trong việc đối phó với thất nghiệp và cũng là một phần quan trọng trong tổng thể những chính sách của mỗi quốc gia đó là BHTN. Sự ra đời của BHTN hoàn toàn tất yếu khách quan, nó gắn liền với bối cảnh kinh tế thị trường, khi sức lao động của con người được giao dịch đặc biệt với yếu tố cung - cầu và giá cả. Đồng thời, hướng đến chính là người lao động với mục đích giúp họ có được sự bù đắp về kinh tế nếu xảy ra tình trạng thất nghiệp, yên tâm ổn định cuộc sống, tiếp tục tìm việc làm mới, phát triển kinh tế cho bản thân và cũng đóng góp công sức vào sự phát triển của xã hội: - Dưới cái nhìn về kinh tế - xã hội, BHTN được xem là giải pháp nhằm khắc phục hậu quả của thất nghiệp, giúp đảm bảo duy trì cuộc sống và tìm kiếm việc làm cho người thất nghiệp thông qua việc tạo lập và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung được các bên tham gia đóng góp. - Dưới cái nhìn pháp lý, BHTN là tập hợp các quy định pháp luật chi phối việc tạo lập và sử dụng quỹ bảo hiểm thất nghiệp, chi trả TCTN cho người lao động 11 bị mất việc làm, triển khai các chương trình nhằm đưa người lao động bị thất nghiệp trở lại thị trường việc làm.4 Theo công ước 102 của ILO, BHTN là một trong nhánh chính của BHXH, là biện pháp hỗ trợ trực tiếp người lao động về mặt tài chính trong bối cảnh kinh tế thị trường và còn thông qua các hoạt động tư vấn, đào tạo nghề, giới thiệu việc làm để khẩn trương giúp người lao động thất nghiệp có việc làm mới phù hợp hơn.
Kinh nghiệm của các nước đã thực hiện chính sách BHTN này thành công và có một quá trình phát triển lâu dài như: Đức thực hiện từ năm 1927, Mỹ thực hiện từ năm 1935, Chi Lê thực hiện từ năm 1937, Canada thực hiện từ năm 1941, Trung Quốc thực hiện từ năm 1986. Trong giai đoạn đầu thực hiện, chính sách tập trung cho việc giải quyết chế độ đối với người lao động bị mất việc làm để đảm bảo thu nhập của họ trong thời gian thất nghiệp, hỗ trợ đào tạo, tư vấn, giới thiệu việc làm giúp người lao động nhanh chóng có việc làm mới ổn định và tốt hơn. Như vậy, BHTN là một chế độ của BHXH, không chỉ thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động trong thời gian bị mất việc làm mà còn tạo điều kiện đưa người thất nghiệp trở lại thị trường lao động nhằm góp phần đảm bảo đời sống của bản thân người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an sinh xã hội quốc gia. Tuy nhiên, qua nhiều lý do khác nhau, BHTN đã dần tách khỏi hệ thống các nhánh của BHXH và trở thành chính sách độc lập song hành với BHXH tại các quốc gia.
Đặc điểm của bảo hiểm thất nghiệp Người lao động là đối tượng trực tiếp thụ hưởng những quyền lợi mà BHTN mang lại, vì vậy họ có nghĩa vụ đóng góp vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp. Không có chuyện chuyển giao rủi ro từ người thất nghiệp sang người khác hay nói các khác thì người tham gia và người thụ hưởng là một. Người lao động muốn được hưởng TCTN thì phải đóng góp vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp như khoản phí để khắc phục 4 Giáo trình Bảo hiểm, Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM, trang 316 12 rủi ro xảy ra khi bản thân bị mất việc làm, ảnh hưởng xấu đến thu nhập và tài chính của gia đình. Sự đóng góp này dựa trên tin thần chia sẽ rủi ro, lấy số đông bù số ít.
Ngoài việc hỗ trợ tài chính, người lao động còn được hỗ trợ tư vấn, đào tạo nghề và tìm kiếm việc làm khi bị thất nghiệp. BHTN hỗ trợ người thất nghiệp thông qua các hoạt động liên kết chặt chẽ với các biện pháp trên thị trường lao động như tạo ra chổ làm việc mới, nâng cao năng lực cho người lao động, tìm việc làm cho người thất nghiệp. Các biện pháp này gắn liền với chính sách việc làm quốc gia và BHTN luôn được xây dựng thống nhất với chính sách, chương trình việc làm.