Chương 1 MOT SỐ VAN DE LÝ LUẬN VE BẢO HIỂM THAI SAN VÀ QUY. ĐỊNH CUA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HANH VE BẢO HIEM ¬ THAESAN 1. Mét số vấn đề lý luận về bao hiểm thai sản LLL Khái niệm và vai tro của bào hiém thai sin. LLL Khái niêm bảo hiểm thai sản 'Khi nên kinh tế hang hỏa phát triển, việc thuê mướn nhân công trở nên.
Giai cấp công nhân la giai cấp lâm thu cho giới chủ vả được giới chủ trả công, Lúc đâu giới chủ cam ket trả tiễn lương, tién công nhưng người lao động bị bóclột và bi đối xử không công bằng, Giờ làm việc của họ thường ‘bi kéo dai và cường độ lao động rất cao nhưng tién công được trả rat thấp. ‘Hight Gi đau; bã hầu lau động Say al phd War: Va WoL Hide tông được trả đó họ không thể đảm bao cuộc sống của minh cũng như gia đính mình Thêm vào đó, nha nước cũng như giới chủ không hé quan tâm hay giúp đổ họ. Đứng trước tình hình đó giai cấp công nhân đã liên kết lại với nhau để tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau; lập ra các quỹ cửu trợ người ốm, người bị tai nan; lập các tổ chức tương tế và vận đông mọi người tham gia, đầu tranh tự phat với giới chủ như: đôi tăng lương giảm giờ làm, thành lập các tổ chức công đoàn và sau nay là đầu tranh có tổ chức nhưng bị giới chủ đàn áp thêm tệ. Giai cấp công nhân không đôi được quyền lợi ma còn bi tôn that năng né ‘Mau thuẫn giữa giới chủ và thợ ngày cảng trim trọng va sâu sắc.
Các cuộc đấu trang của giai cấp công nhân diễn ra ngày cảng rộng lớn và có tác động. nhiều mặt dén đời sông kinh tế xã hội. Do vay, Nha nước đã phải đứng ra can thiệp và điều hòa mâu thuẫn. Sự can thiệp nay một mat lam tăng được vao trò của Nha nước, mit khác buộc cả giới chủ va giới thơ phải đóng gop mét khoản tiến nhất đính hang tháng đổi với người làm thuê.
Nhân thức được loi ích của việc nay nên cả giới chủ vả thơ déu tham gia. Ngoài nguồn đóng gép của giới chủ, thợ để hình thành quỹ con có sự tham gia đóng gop bé sung tir ngân sách Nha nước khi cân thiết. Ngudn quỹ này nhằm dim bao đời sing cho NLD khí không may gấp phải những biển cổ bất lợi. Chính nhờ những mỗi quan hệ rằng buộc đó mã rồi ro, bat lợi của NLĐ được dân trai, cuộc sống của NLD va gia đình ho ngày cảng được dim bảo én định.
Giới chủ cũng thấy mình có lơi và được bảo vệ, sản xuất kinh doanh diễn ra bình. thường, tránh được những záo trộn không cân thiết. Vi vậy, nguồn quỹ tiễn tế tập trung được thiết lập ngày cảng lớn va nhanh ching Kha năng giãi quyết các phat sinh lớn của quỹ ngây cảng dim bảo. Đó chính la nguén gốc sư ra đời của BHXH ` Bộ luật đầu tiên để cập tới chế độ bảo hiểm ra đời ở Anh năm 1819 là Luật nhà máy.
Năm 1883, nước Đức đưới thời Thủ tướng Bismark đã ban hành Đạo luật BHXH, đây là văn bản vé BHXH đâu tiên trên thé giới. Theo đạo luật này, hề thông BHXH ra đời với sự tham gia bắt buộc của cả người lâm công ăn lương va cả giới chủ. Nha nước giữ vai trò quản lý, đính hướng hoạt động của BHXH. Sau đó nhiều nước Châu Âu cũng cho ra đời các Dao luật của minh như Bi (1905), Ý, Ao, Pháp,.
Dén đâu thé kỹ XX, BHXH đã mỡ rồng ra nhiễu nước trên Thể giới, đặc biệt là các nước Mỹ La Tinh, Hoa Ky, Canada và một số nước khác. Vao thé kỹ XVI đến thé kỷ XVI, một số nghiệp đoàn thợ thi công ra đời và để bao vệ nhau trong hoạt động nghé nghiệp họ đã thành lập lên các loại quỹ tương trợ dé giúp các hội viên khí bi 6m đau, tai nạn Tuy nhiên, ý tưởng về BHXH chỉ thực sự hình thảnh va phát triển rố nét khi xây ra cuộc cách mạng công nghiệp tại Châu Âu. 06030 Sau chiến tranh thé giới thử II, tổ chức liên hợp quốc được thành lập Ngày 10/12/1949, Liên Hợp Quốc thông qua ban tuyên ngôn nhên quyền ma trong đó đã khẳng định moi thành viên trong zã hội déu có quyển hưởng ASXH, Không lâu sau đó, đến ngây 25/6/1952 tổ chức lao động quốc tế (ILO) thuộc liên hợp quốc lin đâu tiên thông qua Công ước 102 vẻ ASXH. Đây lá mốc son nỗi bật đánh dâu sự phát triển của BHXH thể giới.
Công ước 102 của ILO có dé cập đến một số ché độ BHXH trong đỏ có chế độ thai sản ILO cho sang viếc đảm bao thu nhập cho người lao đông, đặc biệt là lao động nữ khi ‘mang thai, sinh con la hết sức cân thiết. Ở Việt Nam, ngay từ khi gảnh chính quyền Đăng va Nha nước ta cling đã rất quan tâm đến chính sách BHXH trong đó có chế đô bão hiểm thai sản BHXH nói chung và bảo hiểm thai sẵn nói riêng đã có nhiều lan sửa đổi, bổ sung Quan niêm vẻ BHXH hiện nay ở Việt Nam theo mô hình BHXH của Bismark, theo đó đổi tượng cia BHXH là thu nhập của NLD khi ho gặp những sư kiên rồi ro dẫn đến bị giảm hoặc mắt thu nhấp do ôm đau, thai sẵn, tai nan lao đông, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, với điều kiến. có sự tham gia BHXH của NLD? Trong quá trình tham gia vảo quan hệ lao đông, cùng với việc thực hiện các nghĩa vụ lao đồng, NLD cũng thực hiện thiên chức của minh, đỏ la sinh dé va nuôi con. Khi đó NLD có thể phải đừng Việc tham gia quan hé lao đồng khiển thu nhập của ho sẽ bị gián đoạn.
sẽ bù dip thu nhập cho NLĐ trong thời gian này, giúp ho thực hiện thiên chức của minh, yên tâm sinh dé và nuôi con. Bởi vậy là một trong những chế độ BHXH, BHTS thực chất cũng chỉnh là sự bảo dim thay thể hoặc Dũ đắp một phân thụ nhập của NLD khi ho bi giảm hoặc mắt thu nhập liên quan đến thai sản trên cơ sé đóng vào quỹ BHXH.`2014 ‘Vi vậy có thé đưa ra định nghĩa về bao thai sản như sau: Báo hiểm. thai sản là ché độ BHXH ri đâm bảo hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi bị giảm hoặc mắt tìm nhập liên quan đến thai sẵn trên cơ số đồng góp vào quỹ BHXE, do Nhà nước tổ chức thực hiện NLD được hưởng BHTS ở đây không có ngiĩa chỉ la lao đông nữ ma có thé còn là lao động nam Sự kiện thai sản ở đây bao gồm mang thai, sinh con hoặc có các sự kiện thai sản khác như thực hiện các biến pháp kế hoạch hóa gia đính Tay thuộc vào từng điều kiện, trường hợp cụ thé mã lao động nữ hoặc lao động nam sẽ được hưỡng ché d6 thai sản theo quy định. Vai trò của bảo hiêm thai sản Thứ niát, đôi với người lao động BHXHTS có ý nghĩa đặc biết quan trong đổi với người lao đông.
Cu thể đối với NLD, BHXHTS có vai trò bảo dim va bù dap một phẩn thu nhâp cho NLD do mang thai, sinh con. Trong quá trình thai sin NLD phải nghĩ việc, không có lương, vì thuế thu nhập sẽ bi giảm BHXHTS với mục tiêu trợ cấp cho NLD nên đã bù đắp được thu nhập cho NLD, mặt khác hỗ trợ các. khoản chỉ phí tăng thêm phát sinh khi lao đông nữ sinh con như: mua sắm. dung cụ tế lút, sữa.
Khoăn trợ cấp nay đã dim bảo đời sống cho người lao đông trong quá trình thai sản trên cơ sở đó góp phan én định tâm lý cho NLD, đặc biệt là lao động nữ khi ho sinh con, người lao động nhân nuôi con nuôi, Jao đông nam nghĩ việc khi vợ sinh con, lao đông nữ mang thai hộ va người me nhờ mang thai hô. Biéu đó đã góp phẩn đảm bao quyền làm mẹ của lao đông nữ, giúp họ thực hiên thiên chức của mình Đặc biết với những quy định. cho phép lao động nam được nghĩ việc khi vợ sinh con sẽ không chỉ tao điều. kiên cho lao đông nam được chăm sóc vợ khi người vợ sinh cơn mà ở ÿ nghĩa nao đó con thể hiện được trách nhiệm của lao động nam đổi với gia đính, xóa bỏ từ tưởng việc sinh con lả chỉ đơn thuần 1a trách nhiệm của người phụ nữ.
3n Đó là sự tiền bộ, văn minh của xã hội. Với ý nghĩa này BHXHTS có tính zã hội va nhân văn sâu sắc. Thứ hai, đôi với NSDLĐ BHTS không chi có ý nghĩa déi với người lao đồng mã còn có ý nghĩa đôi với người sử dung lao động. Quyển lợi, thu nhập cia người lao động được.
đầm bão khi mang thai, sinh con đã giúp người lao động (đặc biệt là lao đông, nữ) én định sức khöe trong quá trình thai sản qua đó giúp người sử dung lao đông Gn định lực lượng lao động, ôn định sản xuất. Bên cạnh đó thực hiện chính sách thai sản tốt còn góp phan thu hút lao động nữ vào các doanh nghiệp, mà hiện nay lực lương nữ tham gia lao đông ngày cảng lớn, có tay nghề và trình đồ ngày cảng cao trong các lĩnh vực hoạt 66ng sản xuất hang hóa và dịch vụ. Ngoài ra BHTS còn thể hiện trách nhiệm va nghĩa vụ của người sit dụng đối với NLD và đổi với toàn xã hội, nếu thực hiện tắt chính sách nay sẽ thu hút được một lực lượng lớn lao động, Hiên nay rất nhiễu ngành nghề như ngành đệt may có sử dung nhiễu lao động nữ. BHTS sẽ thay NSDLĐ giải quyết vẫn để thu nhập cho các lao đông này, tạo điều kiện cho NSDLĐ có lực lượng lao đông én định Thứ ba, đối với Nhà nước và xã hội BHTS là sự chia sẽ của những người tham gia bảo hiểm đổi với NLD khi thực hiện thiên chức, sw chia sé nảy được thực hiến thông qua quá trình tổ chức va sử dung quỹ tiền té tap trung hình thành do sự đồng góp của các bên tham gia BHXH, Tính sã hội được thể hiện là do có sự chia sé ri ro của bao hiểm thai sản, NLD không phải dong phi, phi đồng cho NLD hưởng được tính.
từ lợi nhuận sau thuế của NSDLĐ. Khoản tiên nay, giúp đâm bao cuốc sing đổi với NLD khi thai sản, trên cơ sở nguyên tắc “lay của số đông, bù cho số it”. Vi thé BHTS sẽ góp phan on định lực lượng sản xuất, tái tao, phát triển. au ngudn nhân lực chất lương và én định trong tương lai, điều hòa quan hệ lao động, làm tăng trưởng nên kinh tế.