CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VE BẢO HIỂM Y TE VÀ PHÁP LUẬT BẢO HIỂM Y TẾ 1.1 Khái quát về bảo hiểm y tế 1.1 Rháiniệm bio hiémy tẾ Sức khoé là tải sản quý giá nhất của con người. Tâm quan trọng của sức khoé trong cuộc sống của con người là diéu không ai có thé phủ nhận. Thâm chỉ, nhiễu người còn cho rằng, có sức khoẻ là có tat cả. Tuy nhiên, trong các giai đoạn khác nhau của cuộc đời, thứ tải sản quý.
giá nay của con người có những biển động nhất định. Tinh hình sức kho cia con người ở một thời điểm phụ thuộc vảo nhiều yêu to như tuổi tác, môi trường sống, điều kiện làm việc. Do vậy, sức khoẻ của con người cũng sẽ dé dang gắp sử có, gấp rủi ro. Dũ vé mat chủ quan, con người có ý thức tự chăm.
sóc và rèn luyện cơ thể nhưng các điều kiện khách quan có ảnh hưởng đến. sức khoé con người lại thường khó nắm bắt và kiểm soát nên việc gấp rũi ro về sức khoẻ la thứ rủi ro dé gặp nhất đổi với con người. Rui ro về sức khoẻ không chỉ khiến con người đau đón vé thé chất, sa sút vé tinh thân mà thâm chi còn khiển con người kiết qué vé tải chính Từ những khỏ khăn trong thực t ma con người đã tìm cách nương tưa vào nhau, cũng tim ra các giải pháp để đối phó với bệnh tật. Vượt qua những gánh năng về chỉ phí phát sinh từ ri ro sức khoế như thể nào là một van đề được đất ra với rất nhiều gia đình và cá nhân của các quốc gia trên thể giới “Xuất phat từ tình hình thực tiễn của lịch sử va như một tat yếu khách quan, BHYT đã được ra đồi tai nước Đức vào thé kỷ XIX Từ khi ra đồi cho đến nay, BHYT ngày cảng được các tổ chức quốc tế vả các quốc gia trên thé giới quan tâm, mở rộng phát triển với mục tiêu nhằm thiết lập, duy trì và phát triển hoàn thiện hơn một cơ chế 28 hội giúp con người chia sé cho nhau những rủi ro, gánh năng khí 6m đau.
‘Mac dù ra đời từ kha sớm, tuy nhiên, cho đền nay vẫn chưa có một khái niệm thông nhất vé bao hiểm, các nha nghiên cửu dua ra các khối niệm bão tiiểm khác nhau tùy vảo góc độ nghiên cứu khác nhau. BHYT có thể là một chương trình chăm sóc sức khoẽ không vi mục tiêu lợi nhuân do Nhà nước định hướng va đứng ra quan ly, tổ chức thực hiện hay BHYT là một loại sản phẩm do các doanh nghiệp đưa ra nhằm kinh doanh, tim kiểm lợi nhuận. Do giới hạn đổi tượng và pham vi nghiên cửu của luận văn nên tác giả chỉ luận bản về BHYT dưới góc độ BHYT xã hội Xét dưới góc độ nay thì BHYT thường được nhìn nhân trên ba khia cạnh, x hội, kinh tế va pháp lý. Dưới góc đô xã lội, các học giã quan niệm BHYT là một biện pháp để bảo đảm cho người dân của các quốc gia chống lại các nguy cơ phát sinh chi phi y tế hoặc như là một bô phân quan trong của an sinh x hội.
BHYT được xem như là một công cụ để người dân được tiếp cận các dich vụ chăm sóc sức khoẻ một cách bình đẳng nhất, Va, ở một khía cạnh khác, BHYT được xem như một cơ chế để liên kết các loi ich ã hội, khuyên khích tình đoàn kết và dam bảo quyển công dân. Lúc nay, bảo vệ tải chính và tiếp cân dịch vụ chăm. sóc sức khoẻ chỉ là một phan của mục tiêu BHYT. Quan điểm nay rất phổ biển ở các nước Tây Âu ` Một sô quốc gia ChâuA như Nhật Ban, Han Quốc, ‘Trung Quốc.
cũng rat xem trọng khía cạnh xã hội của BHYT. Với quan điểm. nay thi Nha nước có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình quản lý, tổ chức hệ thống BHYT như Đức, Indonesia.hay thậm chi Nha nước là chủ thể trực tiếp đứng ra thực hiện BHYT như Thai Lan, Thuy Điển. Ở Việt Nam, dưới góc đô xã hi, BHYT là một hình thức tương trợ công đồng nhằm mục đích bao vệ sức khöe cộng đông.
Trong hoạt động BHYT thi tính cộng đồng đoản kết cùng chia sẽ rũi ro rat cao, nó là nên tăng ` NggỄn Hiền Peng C013), Pip hit bio ibn yt mốt số giấc gà win thể gới và những kan nghệm, cho Việ Men, Sich đưyễn khảo, Neb Tựhấp, Ha Nội, Te cho lĩnh vực bao về và chăm sóc sức khöe, né diéu tiết manh mé giữa người 'khoẻ mạnh với người ômyếu, giữa thanh niên với người gia ca và giữa người có thu nhập cao với những người cỏ thu nhập thấp. Thực chất đó là qua tình phan phối lại tổng sản phẩm trong nước giữa những người tham gia BHYT khi bị rũi ro về sức khỏe. Tính xã hội của BHYT cũng được thể hiện ở đối tương tham gia BHYT va vai trò của nba nước trong việc thực hiện chính sách BHYT. Đôi tượng tham gia BHYT bao gồm tat ca thành viên trong x4 hội không phân biết tuổi tac, giới tính, tôn giáo, trình đồ, thu nhập.
Nhà trước không chỉ giữ vai trò là người tổ chức, quan lý ma còn giữ vai trò bảo. trợ thực hiện BHYT. Dưới góc đô kinh tổ, theo quan điểm của Tổ chức Phát triển vả hợp tác kinh tế (OECD) thì BHYT được hiểu là một cách để phân phối các rũi ro tải chính liên quan tới sự thay đổi chỉ phi cham sóc sức khoé cả nhân bằng cách tổng hợp chi phi theo thời gian thông qua thanh toán trước. Cách lý giải nảy.
cũng cho thay bản chất kinh tế rit rõ nét của BHYT. Các quốc gia chú trọng yếu tỏ kinh tế của BHYT thông thường là những nước có nên kinh tế thi trường tự do phát triển mà đại diện la nước Mỹ. Với quan điểm nay thì vai trò của Nha nước trong việc tổ chức thực hiện BHYT thường không được xem trọng như tại các quốc gia quan tâm tới yếu tô zã hội của BHYT. Nha nước đóng vai trò quản lý vĩ mô đổi với BHYT, việc thực hiện có thể giao phân lớn hoặc hoàn toàn cho từ nhân thực hiện.
Tai Việt Nam, đưới góc đô kinh tế, BHYT lả một phương pháp lập quỹ dự trữ bằng tiên đóng góp những cùng người có khả năng gặp ri ro vé sức khöe va sự tai trợ của nba nước. BHYT l các quan hệ kinh té gắn lién với việc huy đồng sự đóng góp của những người tham gia BHYT, hợp nhất các ˆ Nguyễn Hiền Bro 2013), Pp hột biotin y Ý ớt sổ mốt ga mtn th gi vàng kaha, cho Fie Nem, Sich đyện khảo, No Tháp, Nội, 317 nguồn lực để hình thanh quỹ chung nhằm đối phó với rủi ro sức khỏe của người tham gia và công ding Quá trình thực hiện BHYT cũng là quá trình tổ chức và sử dung quỹ chung nảy, dưới góc kính tế, có thể thay BHYT là sự ‘bao đảm về vật chất phục vụ nhu cu y tế cho người tham gia va gia đình ho khi có nguy cơ mất an toàn về kinh tế do bi rủi ro về sức khỏe thông qua sử dụng nguồn quỹ huy động từ người tham gia vả tai trợ cia Nhà nước. Dưới góc đô pháp lý, BHYT được xem là một chế đô để đảm bảo quyển con người, quyền công dân trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ ma các. nhà nước phải có cơ chế dim bao.
Công ước số 102 của Tả chức lao động quốc tế (ILO) về quy phạm tôi thiểu về an toản x hội đã nhân định, BHYT la một bô phân cầu thành của hé thông an sinh x4 hội, có mục đích chung là bao vệ cuộc sống của các thành viên trong xã hội. Trong Tuyên bổ Alma- Ata năm 1978 về sức khöe cho mọi người, TẢ chức¥ tế thé giới đưa ra quan niệm. “Bao hiểmy tế la loại hình bao hiểm không kinh doanh, không vì mục dich lợi nhuận và được tiếp cân chủ yéu đưới góc độ quyển con người" và được hau hết các quốc gia trên thể giới thống nhat, lựa chon là giãi pháp thực hiện sứ mênh bảo về, chăm sóc sức khöe công đẳng Nhà nước Việt Nam có quan niệm, BHYT được coi là quyển quan trọng của con người trong viếc bao vệ sức khoẻ của bản thân va cộng đồng Quyền được chăm sóc sức khöe là quyên thiêng liêng của con người được các tuyên ngôn nhân quyển khẳng định và được pháp luật của các quốc gia thừa nhận Việc tham gia BHYT vita 1a quyển lợi vừa 1a trách nhiệm của mỗi cá nhân trong xã hội vì mỗi người khi tham gia BHYT nhằm có được sự bão đâm tai chính khi gặp rồi ro vé sức khöe cho minh nhưng đây cũng là sư chia sẽ với công đồng, vì lợi ich cla công đẳng, Từ những nhân định như trên ma BHYT được Từ điển bách khoa Việt ‘Nam xuất bản năm 1995 định nghĩa, BHYT “la loại bao hiểm do Nha nước tổ 10 chức, quản lý nhằm huy động sự đóng góp của cá nhân, tập tỉ và công đẳng xã hội dé chăm lo sức khỏe, khám bệnh và chữa bệnh cho nhân dân" Định nghĩa nay về BHYT đã được các nha lam luật Việt Nam đưa vào. thành quy định cu thé tại khoản 1 Điều 2 Luật BHYT sửa đổi, bỗ sung một số điều của Luật BHYT năm 2014 "Báo hiểm y tế là hùnh thức bảo hi; bắt bude được áp đhơng đối với các đốt tương theo qny định của luật này đỗ chăm sóc sức khoẽ, Riông vi muc đích lợi nhận do Nhà nước t chức thực hiện” Như vay, BHYT với cơ chế xã hội của mình đã trở thảnh «tém lưới đỡ » rông nhất trong mang lưới an sinh x8 hôi quốc gia, mang ý nghĩa nhân văn, mang tính công đồng sâu sắc nhất trong hé thông an sinh xẽ hội.12 Đặc điễm của bảo hiểmy té Bao hiểm y tế là một nội dung của hệ thông an sinh xã hội.
Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO), an sinh sã hội được hiểu là sự bao vệ của zã hội đổi với các thành viên của minh thông qua mét loạt biển pháp công công, nhằm chéng lại những khó khăn về kinh tế va xã hội do bi ngừng hoặc giảm. thu nhập, gây ra bởi ôm dau, thai sin, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi giả và chết, lông thời đảm bảo các chăm sóc y tế va trợ cấp gia đính đông con. Vẻ mặt bản chất, an sinh xã hội là gop phân dim bao thu nhập va đời sống cho mọi công dân trong xã hội.