Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC 1. Khái quát về bảo hiểm xã hội bắt buộc 1. Khái niệm bảo hiểm xã hội bắt buộc Ngành bảo hiểm trên thế giới đã có lịch sử phát triển khá lâu dài. Trước công nguyên, ở Ai Cập, những người thợ đẽo đá đã thành lập “quỹ tương trợ” để giúp đỡ các nạn nhân trong các vụ tai nạn.
Từ đó, các hoạt động mang tính chất bảo hiểm phát triển theo sự phát triển của xã hội loài người. Bắt đầu bằng hình thức các quỹ dự trữ, tương trợ đơn giản, dần dần các loại hình bảo hiểm áp dụng cho từng trường hợp khác nhau được hình thành và phát triển. Trong đó, BHXH được chính phủ một số nước xem xét nhằm huy động sự đóng góp của NLĐ, người sử dụng lao động (NSDLĐ), có sự hỗ trợ của nhà nước để trợ cấp cho NLĐ khi gặp những trường hợp rủi ro, ốm đau, tai nạn già yếu không làm việc được nên không có tiền lương để sinh sống, lâm vào cảnh khốn cùng, phát sinh nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội. Hiện nay, BHXH đã trở thành một chính sách lớn và vô cùng quan trọng của Đảng và Nhà nước ta, được quy định rõ trong Hiến pháp, nhằm góp phần ổn định thu nhập cho NLĐ và gia đình của họ khi không may gặp rủi ro.
Ở Việt Nam cũng như trên thế giới, BHXH được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau như: tài chính, pháp luật,… Vì vậy, có thể có nhiều định nghĩa khác nhau về BHXH. Tùy theo góc độ nhìn nhận mà khái niệm BHXH được tiếp cận ở nhiều khía cạnh khác nhau: Theo Công ước 102 của tổ chức Lao động quốc tế (ILO) năm 1952: “BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua các biện pháp công cộng nhằm chống lại khó khăn về kinh tế - xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập gây ra bởi ốm đau, thai sản, TNLĐ, thất nghiệp, 6 thương tật, tuổi già và chết; đồng thời đảm bảo chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con”. Theo Từ điển tiếng Việt: “BHXH là sự bảo đảm những quyền lợi vật chất cho công nhân, viên chức khi không làm việc được vì ốm đau, sinh đẻ, già yếu, bị TNLĐ…” Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3, Luật BHXH năm 2014 của Quốc Hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam: “BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, TNLĐ, BNN, hết tuổi lao động hoặc chết trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH” Tuy xuất phát ở nhiều khía cạnh, phương diện khác nhau, nhưng có thể khái quát về BHXH như sau: - BHXH là hệ thống bảo đảm khoản thu nhập thay thế cho NLĐ khi NLĐ bị mất hoặc giảm thu nhập, thông qua việc hình thành và sử dụng quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia và có sự ủng hộ của Nhà nước. - BHXH được chi trả trong các trường hợp NLĐ bị giảm hoặc mất thu nhập, chỉ trong các trường hợp: ốm đau; thai sản; TNLĐ; BNN; thất nghiệp; hết tuổi lao động; hoặc chết.
- Quỹ BHXH được sử dụng để trả lương hưu và các khoản trợ cấp BHXH cho NLĐ nhằm góp phần bảo đảm ổn định đời sống cho NLĐ và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an sinh xã hội, ổn định xã hội. - Đối tượng của BHXH chính là thu nhập bị biến động giảm hoặc mất do các trường hợp được quy định trong Luật BHXH của những NLĐ tham gia BHXH. - Thực chất của BHXH là lấy số đông bù số ít và thực hiện chức năng phân phối lại thu nhập theo cả chiều dọc và chiều ngang giữa những NLĐ có thu nhập thấp hơn, giữa những người khoẻ mạnh đang làm việc với những người ốm yếu phải nghỉ việc. Nói cách khác, BHXH góp phần đảm 7 bảo sự “thăng bằng” về thu nhập cho NLĐ và gia đình họ.
Điều này góp phần vào việc đảm bảo công bằng xã hội. Tại khoản 2 Điều 3 Luật BHXH năm 2014 quy định: “BHXH bắt buộc là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức mà NLĐ và NSDLĐ phải tham gia”. Từ khái niệm BHXH, có thể hiểu khái niệm BHXH bắt buộc là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ (trong một số trường hợp gồm cả thành viên gia đình) khi họ gặp phải biến cố hoặc rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động do một số nguyên nhân nhất định gây nên (do ốm đau, thai sản, TNLĐ, BNN, hết tuổi lao động hoặc chết) trên cơ sở nghĩa vụ (bắt buộc) tham gia của NLĐ và NSDLĐ. BHXH bắt buộc là một hình thức đóng góp quan trọng hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung ổn định và bền vững để đảm bảo thu nhập cho NLĐ, góp phần ổn định an sinh xã hội.
Đặc điểm bảo hiểm xã hội bắt buộc BHXH bắt buộc là một trong hai hình thức quan trọng của BHXH. Vì vậy, BHXH bắt buộc có những đặc điểm của BHXH nói chung: - BHXH bảo đảm cho NLĐ trong và sau quá trình lao động: NLĐ sẽ được BHXH trợ cấp cho đến lúc chết khi tham gia BHXH. Khi còn làm việc, NLĐ được hưởng các loại trợ cấp khi ốm đau, khi sinh con đối với lao động nữ, khi bị TNLĐ, còn nếu NLĐ không còn làm việc nữa thì được hưởng tiền hưu trí, khi chết thì gia đình được hưởng trợ cấp tiền mai táng và tử tuất… - Các sự kiện bảo hiểm và các rủi ro xã hội của NLĐ liên quan đến thu nhập của họ. Bao gồm: ốm đau, TNLĐ, BNN, thai sản, thất nghiệp, già yếu, chết… Do những sự kiện và rủi ro này mà NLĐ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc khả năng lao động không được sử dụng, dẫn đến họ bị giảm hoặc mất nguồn thu nhập, do đó họ cần phải có khoản thu khác bù vào thông qua các trợ cấp BHXH, bảo đảm nhu cầu sống thiết yếu, chăm sóc sức khỏe và chống lại bệnh tật.
8 - Bên trong BHXH là mối quan hệ giữa ba bên phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động: Bên tham gia BHXH có thể là NLĐ hoặc NLĐ và NSDLĐ; Bên BHXH là cơ quan chuyên trách cho Nhà nước lập ra, là bên thực hiện nhiệm vụ BHXH; Bên được BHXH là NLĐ và gia đình họ. Các bên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau về nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi trên cơ sở các quy định của pháp luật về BHXH. - Sự đóng góp của NLĐ, NSDLĐ và sự bảo đảm của Nhà nước là nguồn hình thành cơ bản của quỹ BHXH. Ngoài ra nguồn thu của quỹ BHXH còn có các nguồn khác như lợi nhuận từ đầu tư phần tiền nhàn rỗi của quỹ BHXH; khoản nộp phạt của các doanh nghiệp, đơn vị chậm nộp BHXH theo quy định pháp luật và các nguồn thu hợp pháp khác.
- Các hoạt động BHXH được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, các chế độ BHXH cũng do luật định và là một dịch vụ công mang tính phi lợi nhuận. BHXH vừa có tính dự phòng xã hội, vừa mang tính phúc lợi xã hội. Ngoài những đặc điểm chung kể trên, BHXH bắt buộc cũng có những đặc điểm riêng phân biệt với hình thức BHXH tự nguyện, cụ thể: Thứ nhất, căn cứ vào quy định pháp luật về BHXH, những đối tượng nào có nghĩa vụ phải tham gia BHXH bắt buộc thì phải tham gia BHXH mà không phụ thuộc vào ý chí của họ có muốn tham gia hay không cũng như thay thế bằng các hình thức khác. Việc tham gia BHXH của những đối tượng này là quyền đồng thời cũng là nghĩa vụ đối với họ, nếu không tham gia thì NLĐ và NSDLĐ sẽ phải chịu chế tài xử lý theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, mức đóng BHXH bắt buộc được pháp luật quy định cụ thể cho các bên tham gia mà các bên không có quyền thương lượng hay thỏa thuận. Tỷ lệ % mức đóng của mỗi bên gồm NLĐ và NSDLĐ căn cứ trên cơ sở quỹ tiền lương trả cho NLĐ. Pháp luật quy định trách nhiệm của cả hai bên để san sẻ nghĩa vụ tài chính khi đóng BHXH, tạo sự gắn kết lâu dài, hài hòa quan hệ lao động, bảo đảm quyền và lợi ích của các bên. Ý nghĩa bảo hiểm xã hội bắt buộc Đối với người lao động Là một trong những chính sách kinh tế xã hội quan trọng của Nhà nước, BHXH góp phần trợ giúp cho NLĐ khi ốm đau, tai nạn, lúc sinh đẻ và chăm sóc con cái, khi không làm việc, lúc già cả để duy trì và ổn định cuộc sống của cá nhân NLĐ và gia đình họ, bằng cách tạo ra cho họ những thu nhập thay thế, những điều kiện lao động thuận lợi, khắc phục hậu quả ở mức độ cần thiết… Từ đó góp phần quan trọng vào việc tăng năng suất lao động cũng như chất lượng công việc cho doanh nghiệp nói riêng và đảm bảo ổn định cho toàn xã hội nói chung.
Đối với người sử dụng lao động BHXH bắt buộc thể hiện nghĩa vụ và trách nhiệm của NSDLĐ đối với NLĐ – đối tượng mà NSDLĐ khai thác lợi ích bằng sức lao động của họ. Bên cạnh việc trợ giúp cho đời sống của NLĐ và gia đình họ khi gặp rủi ro hay các sự kiện bảo hiểm như ốm đau, tai nạn không có nguồn thu nhập, không có chi phí thuốc men…, BHXH bắt buộc còn là biện pháp “phân tán rủi ro” cho NSDLĐ, giúp cho NSDLĐ có thể ổn định hoạt động, sản xuất kinh doanh, tránh được thiệt hại kinh tế do phải chi trả một khoản tiền lớn cho NLĐ gặp rủi ro. Mặt khác, những rủi ro đối với NLĐ dẫn đến đời sống của họ bị ảnh hưởng, từ đó chất lượng, hiệu quả cũng như năng suất lao động trong doanh nghiệp cũng bị ảnh hưởng theo, BHXH bắt buộc góp phần làm cho lực lượng lao động trong doanh nghiệp hoạt động ổn định, liên tục, giảm bớt tình trạng tranh chấp, tạo mối quan hệ lao động tốt đẹp. Đối với xã hội BHXH là công cụ quan trọng giúp NHà nước thực hiện chức năng xã hội hiệu quả hơn nhằm đạt tới mục tiêu công bằng và tiến bộ xã hội.
Thông qua các quy định về BHXH, Nhà nước thực hiện việc phân phối thu nhập, điều tiết quyền và lợi ích của các bên, đảm bảo sự công bằng trong việc giải quyết hậu quả của rủi ro, bất trắc xảy ra.