CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm người đại diện của doanh nghiệp Đại diện là chế định quan trọng trong pháp luật tư, được ghi nhận trong pháp luật nhiều quốc gia trên thế giới, bao gồm cả quốc gia theo hệ thống civil law và common law. Thậm chí, các quốc gia theo hệ thống common law còn có học thuyết riêng khá toàn diện về đại diện (Agency).1 Trong mọi mặt đời sống xã hội nói chung và trong hoạt động kinh doanh thương mại nói riêng, đại diện thúc đẩy sự phân công lao động xã hội với một ảnh hưởng vô cùng rộng lớn. Vì thế, Konrad Zweigert và Hein Koetz cho rằng: Phương thức đại diện là một sự cần thiết không thể bị vô hiệu trong bất kỳ chế độ phát triển nào mà dựa trên sự phân công lao động đối với sản xuất, và phân phối hàng hóa và dịch vụ.2 Sự ra đời và phát triển của chế định đại diện ở các nước Châu Âu lục địa dựa trên nền tảng tư tưởng của trường phái luật tự nhiên trong bối cảnh thương mại và công nghiệp đang phát triển mạnh với sự xuất hiện các vấn đề như giao một con tàu cho thuyền trưởng điều khiển và quản lý hay hoạt động kinh doanh thông qua sự điều hành của người khác.3 Còn theo truyền thống Common law, pháp luật về đại diện (agency law) bắt nguồn từ một châm ngôn La tinh: “Qui facit per alium, facit per se” nghĩa là: hành động của một người thông qua một chủ thể khác được pháp luật coi là hành động của chính người đó.4 Quan hệ đại diện là một dạng quan hệ phức hợp được tạo bởi quan hệ giữa người ủy quyền (principal), người đại diện (agent) và người thứ ba (third party).5 Trên lĩnh vực pháp luật công ty, pháp luật của các nước có nền kinh tế thị trường phát triển đều quan tâm điều chỉnh vấn đề đại diện, đặc biệt là trong vấn đề quản trị công ty (corporate governance).
Công ty với tư cách là một pháp nhân – một 1 Nguyễn Vũ Hoàng (2013), “Chế định đại điện trong pháp luật Việt Nam và vấn đề đặt ra trong thực tiễn áp dụng”, Tạp chí Luật học (2), tr. 2 Konrad Zweigert and Hein Koetz (1998), An Introduction to Comparative Law, Claredon Press, Oxford, p431. 3 Ngô Huy Cương (2009), “Chế định đại diện theo quy định của pháp luật Việt Nam – Nhìn từ góc độ Luật so sánh”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (4), tr. 4 Abdul Kadar, Ken Hoyle, Geoffrey Whitehead (1985), Business Law, Made Simple Books, London, p.; Wikipedia, the free encyclopedia, Agency Law, http://en.org/wiki/Agency (law), (truy cập lần cuối 9/2013) 5 Hồ Ngọc Hiển (2007), “Nghĩa vụ người đại diện và người ủy quyền theo pháp luật kinh doanh của Hoa Kỳ trong sự so sánh với các quy định pháp luật tương ứng của Việt Nam” , Tạp chí Nhà nước và Pháp Luật số 3, tr.
6 thực thể pháp lý độc lập (a separate legal entity), tự bản thân nó không thể hành động cho chính mình mà chỉ có thể hành động thông qua những con người cụ thể - những người quản lý. Do đó, công ty luôn cần có người đại diện trong giao dịch để xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.6 Khi có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý thì vấn đề quản trị công ty xuất hiện. Những thách thức đứng đằng sau tất cả các vấn đề quản trị công ty không có gì mới. Không thể kỳ vọng các thành viên HĐQT của công ty, người quản lý tiền bạc của người khác cũng cẩn trọng y như khi họ quản lý tiền bạc của chính mình.
7 Điều đó đã được người khởi xướng lý thuyết đại diện (agency theory), Jensen và Mecklin giải thích như sau: “Lý thuyết đại diện liên quan đến một hợp đồng theo đó một hoặc vài người (cổ đông) giao cho người khác (thành viên HĐQT) thay mặt họ thực hiện một số dịch vụ, trong đó có việc ủy quyền ra quyết định cho đại diện. Nếu cả hai bên trong mối quan hệ này là những người muốn tối đa hóa lợi ích, chúng ta có lý do để tin rằng đại diện sẽ không luôn luôn hành động vì lợi ích của người chủ”.8 Như vậy, sự phát triển của pháp luật công ty (company law), sự phân tách giữa quyền sở hữu và quản lý, kiểm soát công ty làm tiền đề cho sự xuất hiện lý thuyết về người chủ và người đại diện. Mối quan hệ này được coi như là quan hệ hợp đồng mà theo đó, các cổ đông (những người chủ sở hữu – principals), bổ nhiệm, chỉ định người khác, người quản lý công ty (người thụ ủy – agents) để thực hiện việc quản lý công ty cho họ, mà trong đó bao gồm cả việc trao thẩm quyền để ra quyết định định đoạt tài sản của công ty.9 Người đại diện cho người chủ sở hữu (principals) hay cho cổ đông (shareholders) chính là thành viên HĐQT và những vị trí quản lý quan trọng (managers, directors) trong công ty hoặc thực hiện một vai trò trong vị trí của người quản lý bất luận chức danh của họ được gọi là gì.10 Chính vì tầm quan trọng của chế định đại diện mà BLDS 2005 đã dành hẳn một chương riêng để quy định về đại diện trong quan hệ pháp luật dân sự. Qua tham khảo 6 Bùi Xuân Hải (2007), “Học thuyết về đại diện và mấy vấn đề của pháp luật công ty Việt Nam”, Tạp chí Khoa học pháp lý, (4), tr11-18.
7 Adam Smith (1776), The Wealth of Nations, pp. 8 Michael C Jensen and William Meckling (1976), “Theory of the Firm: Managerial Behavior, Agency Costs and Ownership Structure”, Journall of Financial Economics, October, 3(4), p. 9 Bùi Xuân Hải (2007), tldd 6, tr. 10 Bùi Xuân Hải (2007), tldd 6, tr.
7 Bộ từ điển Black Law Dictionary bản thứ 9 thì thuật ngữ “agency” được dùng để biểu đạt quan hệ một chủ thể nhân danh và vì lợi ích của một chủ thể khác để giao kết, thực hiện một giao dịch. Như vậy có thể đánh giá rằng, trên bình diện nghiên cứu, pháp luật Việt Nam đã có cách tiếp cận tương đối hài hòa với quan niệm chung của các nước về đại diện khi quy định: “Đại diện là việc một người (sau đây gọi là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của người khác (sau đây là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện”.11 Một số nghiên cứu còn đi xa hơn khi chỉ ra rằng, quan niệm về đại diện của pháp luật Việt Nam có nguồn gốc từ trường phái luật tự nhiên giống với BLDS Pháp.12 Chẳng hạn, BLDS Pháp quy định uỷ nhiệm là một hợp đồng mà một người cho một người khác quyền làm một việc cho mình và nhân danh mình. Người được uỷ nhiệm thay mặt người uỷ nhiệm để thực hiện hành vi pháp lý.13 Mặc dù mới hình thành và phát triển trong thời gian ngắn, nhưng pháp luật doanh nghiệp Việt Nam đã có điều kiện tiếp thu tương đối đầy đủ những giá trị tích cực của các mô hình quản trị công ty, cũng như học thuyết về đại diện đã hình thành và phổ biến ở những quốc gia có lịch sử phát triển công ty hàng trăm năm. Theo LDN 2005, doanh nghiệp là một thuật ngữ để chỉ một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.14 Theo nghĩa đó, doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được thành lập theo một trong bốn hình thức: công ty TNHH, CTCP, CTHD và DNTN.15 Doanh nghiệp là một chủ thể pháp luật, có năng lực để tham gia vào các quan hệ pháp luật, trong đó trước hết và chủ yếu là các quan hệ kinh doanh thông qua những người đại diện.16 Vì thế, ý chí và hành vi của những thể nhân nhất định giữ cương vị trong doanh nghiệp được xem là ý chí và hành vi của doanh 11 Điều 139 BLDS 2005.
12 Ngô Huy Cương (2009), tldd 3, tr. 13 Xem Điều 1984 BLDS Pháp. Luật DN 2005 15 Trong phạm vi nghiên cứu này, cụm từ “doanh nghiệp” được sử dụng như một khái niệm chung để chỉ các loại hình doanh nghiệp được thành lập theo LDN 2005, chứ không phải bao hàm tất cả các tổ chức kinh tế đáp ứng đầy đủ các điều kiện liệt kê tại khoản 1 Điều 4 16 Đồng Ngọc Ba (2004),“Quan niệm về Doanh nghiệp - Một số vấn đề phương pháp luận”, Tạp chí Luật học số 2, tr.17 Cho nên, doanh nghiệp phải luôn có người đại diện, kể từ khi được thành lập cho đến khi chấm dứt. Tuy nhiên, pháp luật doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa đưa ra một định nghĩa chính thức nào về người đại diện của doanh nghiệp.
Vì thế, những quy định về đại diện của pháp nhân theo BLDS 2005 cũng được áp dụng chung cho các loại hình doanh nghiệp. Đối với pháp nhân, đại diện của pháp nhân là người nhân danh pháp nhân để tham gia các giao dịch vì lợi ích của pháp nhân đó.18 Đại diện của pháp nhân có thể là đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo uỷ quyền. Ý chí của các thành viên pháp nhân được thể hiện thống nhất thông qua người đại diện.19 Một thực tế là, khi tiếp nhận quan niệm của nước ngoài về quản trị công ty vào Việt Nam, với sự khác biệt lớn về thể chế luật pháp, văn hóa và sự phát triển của nền kinh tế thị trường, cấu trúc quản trị nội bộ công ty của Việt Nam có sự khác biệt nhất định với những mô hình quản trị công ty phổ biến trên thế giới.20 Vì thế, trên bình diện nghiên cứu, nội hàm của khái niệm người đại diện doanh nghiệp chưa thể hiện đầy đủ giống như những nghiên cứu của lý thuyết về đại diện. Khái niệm về đại diện chỉ mới tiếp cận phần bề nổi bên ngoài chứ chưa làm rõ về mặt phương pháp luận bản chất của quan hệ đại diện là sự ủy quyền quyền định đoạt tài sản vì lợi ích của chủ sở hữu.
Chính vì vậy, pháp luật Việt Nam có sự phân biệt giữa đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền. Khó tìm thấy sự phân biệt như thế ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Điều đó có thể được nhìn nhận ở một góc độ khác, chúng ta có thể thấy sự pha trộn trong Luật DN 1999 và Luật DN 2005 những quy tắc pháp lý của luật công ty 17 Cao Đình Lành (2009), “Một vài ý kiến về quyền được thông tin của cổ đông trong công ty cổ phần”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (6), tr.