Tổng quan nghiên cứu

Chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện được chính thức triển khai tại Việt Nam từ ngày 01/01/2008 theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006, đánh dấu bước chuyển mình quan trọng trong chiến lược mở rộng lưới an sinh xã hội quốc gia. Tuy nhiên, sau 7 năm thi hành, tính đến ngày 31/12/2014, toàn quốc mới chỉ ghi nhận 196.254 người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, chỉ chiếm 1,68% tổng số người tham gia bảo hiểm xã hội và đạt tỷ lệ bao phủ khiêm tốn khoảng 0,3% trên tổng số lao động thuộc diện tiềm năng. Thực trạng này cho thấy sự chênh lệch lớn giữa mục tiêu kỳ vọng và kết quả thực tế, đặt ra bài toán cấp bách về hoàn thiện thể chế.

Đề tài nghiên cứu tập trung làm rõ cơ sở lý luận về áp dụng pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện, phân tích toàn diện những thành tựu đạt được cũng như các vướng mắc, rào cản trong giai đoạn 2008 – 2015 trên phạm vi toàn quốc và nghiên cứu điển hình tại tỉnh Phú Yên cùng tỉnh Vĩnh Phúc. Mục tiêu cụ thể là chỉ ra các bất cập về mức đóng, phương thức đóng, chế độ thụ hưởng và khâu tổ chức thực hiện, qua đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện thể chế nhằm đón đầu việc thực thi Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi năm 2014 có hiệu lực từ ngày 01/01/2016. Luận văn đóng vai trò là cơ sở khoa học thực chứng quan trọng, góp phần thúc đẩy lộ trình bảo hiểm xã hội toàn dân, giảm áp lực trợ cấp ngân sách trước làn sóng già hóa dân số nhanh tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý thuyết an sinh xã hội hiện đại, đặt nền tảng trên Tuyên ngôn Nhân quyền năm 1948 của Liên Hợp Quốc và Công ước số 102 năm 1952 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về quy phạm tối thiểu trong an sinh xã hội. Luận văn kế thừa mô hình bảo hiểm xã hội cổ điển của Thủ tướng Bismarck (Đức, thế kỷ XIX) với nguyên tắc đóng - hưởng và cơ chế tài chính ba bên, đồng thời phát triển lý thuyết phân phối lại thu nhập theo cả chiều ngang (giữa các giai đoạn cuộc đời của người lao động) và chiều dọc (từ người có thu nhập cao sang người có thu nhập thấp, từ người khỏe mạnh sang người gặp rủi ro).

Khung phân tích tập trung vào 5 khái niệm cốt lõi: Bảo hiểm xã hội tự nguyện, Áp dụng pháp luật an sinh xã hội, Quỹ tài chính tồn tích độc lập ngoài ngân sách, Lao động khu vực phi chính thức và Cơ chế liên thông an sinh. Theo chuẩn mực quốc tế của ILO, tỷ lệ thay thế thu nhập tối thiểu đối với chế độ hưu trí cần đạt từ 40% đến 45% mức thu nhập bình quân sau 30 năm đóng góp. Tại Việt Nam, khung pháp lý quy định mức đóng trần bằng 20 tháng lương tối thiểu chung nhằm bảo đảm tính công bằng và cân đối tài chính dài hạn của quỹ.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp phương pháp luận triết học Mác - Lênin với các phương pháp nghiên cứu liên ngành: phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh luật học và phương pháp phân tích kinh tế - xã hội. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ hệ thống báo cáo chính thức của Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Tổng cục Thống kê và các báo cáo chuyên đề của ILO trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2014.

Nghiên cứu sử dụng kỹ thuật chọn mẫu có chủ đích tại 2 địa phương đại diện cho các vùng kinh tế: tỉnh Phú Yên (đại diện khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ với tỷ trọng lớn lao động nông - ngư nghiệp) và tỉnh Vĩnh Phúc (đại diện vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ với cơ cấu làng nghề và dịch vụ phát triển). Mẫu nghiên cứu bao quát 100% số liệu thu nộp, quản lý quỹ và giải quyết chế độ tại 2 tỉnh này trong 7 năm liên tục. Phương pháp phân tích so sánh chuẩn mực quốc tế với Indonesia, Đức, Thụy Điển được lựa chọn nhằm lượng hóa chính xác khoảng cách giữa quy định pháp luật thực định và nhu cầu an sinh của hơn 30 triệu lao động phi chính thức tại Việt Nam.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tốc độ gia tăng số lượng người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện còn quá thấp so với tiềm năng. Dù số lượng người tham gia tăng từ 6.110 người năm 2008 lên 196.254 người vào năm 2014 (tăng trưởng 16,8% tương ứng 28.159 người so với năm 2013), nhưng tỷ lệ bao phủ thực tế mới đạt khoảng 0,3% tổng số lao động phi chính thức. Trong tổng số người tham gia năm 2014, nhóm đối tượng từng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc chuyển sang chiếm tỷ trọng áp đảo, trong khi nhóm lao động tự do nông thôn tham gia lần đầu rất hạn chế.

Thứ hai, thiết kế mức đóng và phương thức đóng tồn tại nhiều rào cản tài chính nghiêm trọng. Mức đóng phí tăng dần từ 16% năm 2008 lên 22% vào năm 2014 tính trên mức sàn lương tối thiểu chung khiến mức đóng thấp nhất lên tới 253.000 đồng/tháng. Gánh nặng này cao gấp 3 lần tỷ lệ đóng thực tế của người lao động trong khu vực chính thức (do không có người sử dụng lao động đóng cùng). Điều này hoàn toàn vượt quá khả năng tài chính của đại bộ phận lao động tự do vốn có thu nhập chỉ khoảng 20.000 đồng/ngày (tương đương 600.000 đồng/tháng).

Thứ ba, cơ cấu chế độ thụ hưởng thiếu tính linh hoạt và kém hấp dẫn. Chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện chỉ bao gồm 2 chế độ dài hạn là hưu trí và tử tuất, hoàn toàn thiếu vắng các chế độ ngắn hạn thiết yếu như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động. Yêu cầu thời gian đóng tối thiểu 20 năm mới được nhận lương hưu đã trực tiếp tước đi cơ hội tham gia của nhóm lao động nam trên 45 tuổi và nữ trên 40 tuổi khi tham gia lần đầu.

Thứ tư, tình trạng thất thu và nợ đọng bảo hiểm xã hội ảnh hưởng tiêu cực đến niềm tin an sinh. Tính đến ngày 31/12/2013, tổng số nợ đọng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp toàn quốc đã lên tới 6.449 tỷ đồng, chiếm 4,47% tổng số tiền phải thu, trong đó hơn 70% số nợ bắt nguồn từ các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI).

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên bắt nguồn từ việc thiết kế chính sách theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 mang tính cơ học, áp đặt mô hình của khu vực chính thức sang khu vực phi chính thức mà thiếu đi sự hỗ trợ tài chính trực tiếp từ ngân sách nhà nước trong giai đoạn 2008 - 2014. Khảo sát thực tế của ILO chỉ ra rằng 41,4% lao động phi chính thức tại đô thị và 16% tại nông thôn có nguyện vọng tham gia an sinh, nhưng việc thiếu các gói bảo hiểm ngắn hạn khiến mức độ hấp dẫn của chính sách sụt giảm nghiêm trọng. Kinh nghiệm từ Indonesia cho thấy việc phân tách tỷ lệ đóng linh hoạt theo ngành nghề đã giúp nước này mở rộng diện bao phủ hiệu quả hơn.

Khi biểu diễn trực quan qua biểu đồ đường xu hướng tăng trưởng người tham gia giai đoạn 2008 - 2014 và bảng cân đối thu chi quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện, kết quả cho thấy quỹ liên tục kết dư lớn do số chi trả chế độ hưu trí chưa phát sinh nhiều trong những năm đầu. Tuy nhiên, sự kết dư tài chính này phản ánh sự nghèo nàn về diện bao phủ hơn là sự thành công của chính sách. Mô hình quỹ tồn tích cộng đồng đòi hỏi phải mở rộng nhanh chóng tệp người đóng trẻ tuổi để tránh nguy cơ mất cân đối thu chi khi Việt Nam bước vào giai đoạn già hóa dân số với tỷ lệ người cao tuổi vượt 10% dân số.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện khung khổ pháp lý và linh hoạt hóa mức đóng bảo hiểm. Quốc hội và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cần sớm ban hành các văn bản hướng dẫn Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, bãi bỏ mức sàn đóng cố định bằng mức lương tối thiểu chung, cho phép người lao động tự chọn mức thu nhập căn cứ đóng phù hợp với thu nhập thực tế. Đồng thời, đa dạng hóa phương thức đóng theo tháng, quý, 6 tháng, 12 tháng một lần hoặc đóng một lần cho nhiều năm còn thiếu khi đã đủ tuổi nghỉ hưu. Mục tiêu là thu hút thêm tối thiểu 500.000 người tham gia mới trong giai đoạn 2016 – 2020.

Thứ hai, thực thi chính sách hỗ trợ tiền đóng từ ngân sách nhà nước. Chính phủ và Bộ Tài chính cần bố trí nguồn ngân sách hỗ trợ trực tiếp tiền đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện theo tỷ lệ phần trăm trên mức chuẩn nghèo khu vực nông thôn: hỗ trợ 30% cho hộ nghèo, 25% cho hộ cận nghèo và 10% cho các đối tượng khác từ ngày 01/01/2016. Target metric cụ thể là gia tăng tỷ lệ bao phủ người nghèo và cận nghèo tham gia an sinh lên ít nhất 15% vào năm 2020.

Thứ ba, cải cách thủ tục hành chính và phát triển hệ thống đại lý thu chuyên nghiệp. Bảo hiểm Xã hội Việt Nam cần phối hợp với Tổng công ty Bưu điện Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội mở rộng mạng lưới đại lý thu đến 100% cấp xã, phường trên toàn quốc. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý mã định danh cá nhân, rút ngắn 50% thời gian giải quyết hồ sơ và cung cấp thông tin đóng nộp định kỳ hàng năm cho 100% người tham gia.

Thứ tư, tăng cường thanh tra chuyên ngành và chế tài xử lý vi phạm. Thanh tra ngành Bảo hiểm Xã hội cùng cơ quan Tư pháp cần đẩy mạnh thanh tra liên ngành, công khai danh tính các đơn vị nợ đọng kéo dài và áp dụng chế tài xử lý hình sự theo Bộ luật Hình sự đối với hành vi trốn đóng bảo hiểm có hệ thống. Mục tiêu kiểm soát là kéo giảm tỷ lệ nợ đọng bảo hiểm xã hội từ 4,47% xuống dưới 2% tổng số phải thu trước năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, Ủy ban Xã hội của Quốc hội). Luận văn cung cấp nguồn tư liệu thực chứng vững chắc cùng các phân tích chuyên sâu về 7 năm áp dụng pháp luật giai đoạn 2008 – 2014, làm cơ sở xây dựng các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi năm 2014.

Nhóm 2: Giảng viên, nghiên cứu viên, học viên cao học và sinh viên ngành Luật Kinh tế, Luật An sinh Xã hội và Kinh tế Lao động. Công trình là tài liệu tham khảo học thuật chuẩn mực về lý luận an sinh, mô hình quỹ tồn tích cộng đồng Bismarck và phương pháp phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật có đối chiếu so sánh quốc tế giữa Đức, Thụy Điển, Indonesia và Việt Nam.

Nhóm 3: Cán bộ quản lý nhân sự, thanh tra lao động và mạng lưới đại lý thu bảo hiểm xã hội tại các địa phương. Tài liệu giúp nắm vững cơ chế liên thông giữa bảo hiểm bắt buộc và tự nguyện, cách tính toán chế độ trợ cấp một lần và nâng cao kỹ năng tư vấn, truyền thông chính sách cho người dân tại cơ sở.

Nhóm 4: Người lao động tự do, xã viên hợp tác xã và hộ kinh doanh cá thể. Luận văn cung cấp kiến thức pháp lý rõ ràng về quyền lợi hưu trí, cách tính tỷ lệ hưởng lương hưu từ 45% đến 75% và các chính sách hỗ trợ tài chính từ Nhà nước để người lao động chủ động lập kế hoạch an sinh tuổi già.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao tỷ lệ lao động phi chính thức tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện giai đoạn 2008 – 2014 chỉ đạt dưới 2%? Nguyên nhân chủ yếu do mức đóng tối thiểu theo tỷ lệ 16% - 22% lương tối thiểu chung là quá cao so với thu nhập bấp bênh khoảng 600.000 đồng/tháng của người nghèo. Ngoài ra, chính sách giai đoạn này hoàn toàn thiếu vắng sự hỗ trợ tiền đóng từ ngân sách nhà nước và thiếu các chế độ ngắn hạn như ốm đau, thai sản.

Mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được quy định như thế nào theo Luật Bảo hiểm xã hội? Theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006, mức đóng định kỳ hàng tháng bằng 16% mức thu nhập do người lao động lựa chọn và tăng thêm 2% sau mỗi 2 năm cho đến khi đạt 22% vào năm 2014. Thu nhập làm căn cứ đóng thấp nhất bằng mức lương tối thiểu chung và tối đa bằng 20 tháng lương tối thiểu.

Thời gian tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và tự nguyện có được cộng dồn không? Pháp luật quy định cơ chế liên thông hoàn toàn giữa hai loại hình bảo hiểm. Người có cả thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc và tự nguyện được cộng dồn tổng thời gian đã đóng để tính hưởng chế độ hưu trí và tử tuất, bảo lưu tối đa quyền lợi tích lũy của người lao động.

Điều kiện hưởng lương hưu hàng tháng của bảo hiểm xã hội tự nguyện gồm những gì? Người tham gia được hưởng lương hưu khi đủ 60 tuổi đối với nam, đủ 55 tuổi đối với nữ và có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên. Mức hưởng 15 năm đầu tính bằng 45% mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm, sau đó mỗi năm cộng thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ, tối đa đạt 75%.

Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi năm 2014 có những điểm mới đột phá nào cho bảo hiểm xã hội tự nguyện? Luật sửa đổi năm 2014 đã bãi bỏ giới hạn tuổi trần tham gia, cho phép đóng một lần cho nhiều năm còn thiếu để nhận lương hưu ngay khi đủ tuổi. Đồng thời, Nhà nước chính thức trích ngân sách hỗ trợ tiền đóng cho người tham gia và tăng mức trợ cấp tử tuất, bảo hiểm một lần lên 2 tháng thu nhập bình quân từ năm 2014 trở đi.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện tại Việt Nam qua 7 năm triển khai (2008 – 2014).
  • Phân tích rõ nguyên nhân khiến số người tham gia chỉ đạt 196.254 người vào năm 2014, đồng thời lượng hóa các rào cản tài chính và hạn chế trong thiết kế chính sách hưu trí 20 năm.
  • Cung cấp bức tranh thực tiễn chi tiết tại tỉnh Phú Yên và tỉnh Vĩnh Phúc, chỉ ra mối liên hệ giữa cơ cấu ngành nghề và tỷ lệ mở rộng an sinh xã hội.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp mang tính chiến lược cho giai đoạn 2016 – 2020 nhằm triển khai hiệu quả Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi năm 2014, trọng tâm là chính sách hỗ trợ tiền đóng từ ngân sách.
  • Định hình lộ trình hành động cụ thể cho các cơ quan quản lý nhà nước, hướng tới mục tiêu bao phủ an sinh cho hơn 30 triệu lao động phi chính thức và bảo đảm phát triển bền vững quỹ bảo hiểm quốc gia.