mở đầu cho tranh chap biển Đông đỏ là : khoảng năm 1909 Đô đốc Li Chuan đem ba phái thuyền ra thăm chớp nhoáng một vai đảo của quan đảo Trường Sa rồi đỗ bộ lên đảo Phú Lâm sau đỏ rút lui ngay. Bởi lẽ, lúc nay tuy Việt Nam đang mat độc lập nhưng quan đảo nay dang nam trong sự kiểm soát của Pháp với tư cách là đại diện cho nha nước Việt Nam và tiếp tục thực hiện chủ quyên của Việt Nam như Việt Nam đã từng làm ở thé ki XVII đỗi với cả hai quân đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tranh chấp tiếp tục diễn ra với các công ham của phái đoàn ngoại giao Trung Quốc tại Paris năm 1932 khẳng định: “Tay Sa tạo thành cực Nam của lãnh thỏ Trung Quốc”, sau đó Trung Quốc lại khang định: “Nam Sa la điểm tận cùng phía Nam của lãnh thỏ Trung Quốc”. Năm 1946, lợi dụng việc giải giáp quân Nhật chính quyền Trung Hoa dân quốc đưa quân ra chiếm đóng phía đông Hoàng Sa và sau đó rút lui chạy ra Đài Loan.
Đến năm 1956, lợi dụng tỉnh hình quân đội Pháp rút khỏi Đông Dương, chính quyền Việt Nam chưa kịp tiếp quản Hoang Sa, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã đưa quan ra tái chiếm phía đông Hoàng Sa. Năm 1974, một lần nữa Trung Quốc lợi dụng tinh hình chính quyển quan đội Sai Gon đang trên đả sụp đô, quân đội Mỹ lúc nay đang buộc phải rút khỏi miễn Nam Việt Nam, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã đưa quân ra chiêm nhóm phía tay Hoàng Sa do quân đội Sai Gòn dang đóng giữ. Mọi hành động trên của Trung Quốc đều bị Việt Nam phan doi với Kháa luận tot nghiệp GVHD:PGS-TS:Nguyễn Cảnh Huệ 21L SVTH: Dương Thị Thái Quan hệ ASEAN- Trung Quốc về “van dé biển Đông” từ năm 1995 đến 2010 tư cách là nha nước chủ quyền doi với quan dao Hoang Sa. Tuy nhiên ở giai đoạn này Việt Nam con đang vướng vảo cuộc chiến tranh giành độc lập nên đã không thé giảnh lại Hoang Sa.Từ đó tới nay Trung Quốc đã củng có xây dựng quản đảo Hoàng Sa thành căn cứ quân sự của mình.
Tại Trường Sa, vào những năm 1970 Việt Nam Cộng Hòa đã chiếm một số phần vả sau đó chuyển sang cho Việt Nam sau khi đất nước thông nhất ( 1975). Philippin cũng tiền vào Trường Sa trong những nam 1970, trong khi Malaixia giành quyền kiểm soát một đảo lần đầu vào năm 1983 thì Trung Quốc không gianh được dao nào tại Trường Sa. Cho tới năm 1988, sau một trận thủy chiến với Việt Nam tại khu vực nảy, Trung Quốc đã chiếm được 6 vị trí là những bãi cạn ở phía tây Trường Sa. Sau đó Trung Quốc đã ra sức củng có, nâng cấp các vị trí giảnh được thành điểm đóng quân.
Những xung đột của Việt Nam và Trung Quốc giai đoạn nảy đã không thu hút được sự chủ ý của các nước ASEAN, bởi họ đang quan tâm tới xung đột Campuchia. Hon nữa thời điểm nảy Việt Nam chưa phải là thành viên của ASEAN, Trung Quốc cũng không cé gây han gì đối với thành viên nào của ASEAN Được nói nhiều hơn cả là tranh chấp nghiêm trọng giữa Trung Quốc và Philippin: vào giữa năm 1994 quân đội giải phóng của nhân dân Trung Quốc đã xây dựng một hệ thẳng radar cảnh bảo sớm ở bãi Chữ Thập va âm thầm cho xây dựng một số công trình trên dải đá ngầm Vành Khăn mà Philippin đã tuyên bố chủ quyền. Philippin đã phản đối gay gắt hành động này của Trung Quốc. Đây cũng lả lần đầu tiên Trung Quốc trực tiếp xung đột với một thành viên của ASEAN vẻ vấn dé tranh chap lãnh thỏ trên biển.
Hành động này của Trung Quốc được Philippin cho rang: mục đích là dé chiếm hữu và thiết lập kiểm soát thực tế. Philippin cũng tuyên bố việc xây dựng công trình này là trái với luật pháp quốc tế, đi ngược lại với tinh thân tuyên bé năm 1992 vẻ Khéa luận tốt nghiệp GVHD:PGS-TS:Neuyén Cảnh Huệ 22 SVTH: Dương Thị Thái Quan hệ ASEAN- Trung Quéc về “vẫn dé biển Đông” từ năm 1995 đến 2010 biển Đông mà Trung Quốc đã cam kết tôn trọng. Philippin đã ra lệnh củng cổ lực lượng va tăng cường các hoạt động trinh sát ở các đảo Trung Quốc chiếm giữ. Phản đối lại cáo buộc của Philippin bộ trưởng ngoại giao Trung Quốc đã khang định: “cầu trúc ma Trung Quốc xây dựng trên dai đá ngầm dé bảo đảm cho sự an toản mang song cũng như cho các hoạt động đánh bắt trên quan dao Trường Sa” va “việc nay do các cấp dưới của Trung Quốc thực hiện mà không có sự tham khảo hoặc đồng ý của chính phủ”.
Đến tháng 3/1995 hai bên đã tiễn hành dam phan nhưng không thành. Sau đỏ, Philippin đã cho lực lượng hải quân của minh ban phá các cột mốc, các công trình do Trung Quốc xây dựng. Đông thời, Philippin cũng dùng hoạt động ngoại giao dé đa phương hóa, quốc tế hóa van đẻ bien Đông. Thang 4 /1995 ASEAN với tư cách là một nhóm đã nêu van dé biển Đông với Trung Quốc tại Hàng Châu.
Trung Quốc cũng đã đưa ra chủ chương phát triển chung nhưng không đạt kết quả. Trong các năm 1996, 1997 Trung Quốc liên tục củng cổ và nâng cấp các công trình đã xây dựng gan Philippin, Quan hệ tiếp tục căng thăng vào tháng 10/ 1998 Vành Khăn trở thành tâm điểm chú ý của khu vực khi Philippin công bé những bức anh tau thuyén của Trung Quốc đang chở vật liệu lên xây dựng một toa nhà lớn ngay cạnh công trình cũ trước đó. Điều này đã làm cho quan hệ Trung Quốc và Philippin căng thẳng. Lúc nay ngoài việc đàm phan song phương với Trung Quốc, Philippin đã tìm cách quốc tế hỏa van dé biển Đông bằng cách vận động ASEAN, đưa van dé ra Liên Hop Quốc, Và ké từ năm 1995 đến nay xung đột trực tiếp giữa hai nước đã được kiêm chế nhưng chua có giải pháp cụ thẻ.
Cho đến nay Trung Quốc đã chiếm được 7 vị trí ở Hoang Sa, một vị trí ở Trường Sa. Tong số đảo ma Trung Quốc chiếm đóng là 8 vị trí. Ngoài Hoàng Sa là đổi tượng tranh chap của Trung Quốc với Việt Nam thì Trường Sa là đổi Khóa luận tat nghiệp GVHD:PGS-TS:Nguyễn Cảnh Huệ 23 SƯTH: Dương Thị Thái Quan hệ ASEAN- Trung Quốc về “van dé biển Đông" từ năm 1995 đến 2010 tượng tranh chấp của Trung Quốc với các nước thành viên ASEAN như: Việt Nam, Philippin, Malaixia, Brunei. Quá trình tranh chấp chủ quyên đảo còn gắn lién với sự phát triển của luật biển quốc tế và kha năng phát hiện được những mỏ dầu có thé khai thác được nằm dưới đáy biển của hai quan đảo.
Công ước của Liên Hợp Quốc ve luật biển năm 1982 đã có hiệu lực vào năm 1994, luật biển quốc tế cho phép các quốc gia ven biển có quyền mở rộng lãnh hải 12 hải lí, vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lí và thêm lục địa. Thời hạn cuối cùng cho các đòi hỏi mở rộng thêm lục địa là 13/5/2009. Các nước đã lần lượt ra tuyên bỗ về vùng biển trên cơ sở Công ude 1982, - Trung Quốc tuyên bo vùng tiếp giáp ngày 25/02/1992, Luật về vùng đặc quyền kinh tế va thêm lục địa ngày 26/06/1998, quy định ve hệ thông đường cơ sở ngày 15/06/1996, Dai Loan tuyên bo vùng đặc quyên kinh tế 200 hai lý ngày 8/10/1979, công bố Luật vùng đặc quyên kinh tế và thêm lục địa Trung Hoa Dân Quốc ngày 30/12/1992, Luật lãnh hải va vùng tiếp giáp Trung Hoa Dân Quốc ngày 02/01/1993 và Tuyên bỗ đường cơ sở ngày 10/2/1999 - Việt Nam tuyên bố các vùng biển lãnh hải 12 hải lý, đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thêm lục địa ngày 12/5/1977, đường cơ sở ngả12/11/1982. - Philippin đưa ra giới hạn vùng Kalayaan nằm ngoài ranh giới Hiệp ước Hoa Kỳ - Tây Ban Nha năm 1898 qua Sắc lệnh N°1596 ngày 11/06/1978 nhằm cụ thé yêu sách chủ quyền các đảo trong giới han đỏ.
Ngày 11/06/1979, Philippin ra Sắc lệnh N° 1599 về vùng đặc quyền kinh tế 200 hai lý. Ngày 10/03/2009 Philippin chính thức thông qua Luật cộng hòa xác định đường cơ sở và quản lý quan đảo Trường Sa va bãi cạn Hoàng Nham (Scarborough) theo “quy chế đảo”. Khoa luận tot nghiện GVHD:PGS-TS:Nguyễn Cảnh Huệ 24 SETH: Dương Thị Thái Quan hệ ASEAN- Trung Quốc về “vẫn dé biển Đông” từ năm 1995 đến 2010 - Malaysia va Brunei đưa ra cách tiếp cận mới lẫy luật biển lam cơ sở yêu sách chủ quyên các đảo. Năm 1966 Malaysia thông qua Luật về thêm lục địa, tháng 12/1979 ra bản đỗ thể hiện ranh giới lãnh hải va cho rằng các đảo nằm trong vùng thêm lục địa đã tuyên bố thuộc chủ quyền của Malaysia.
Năm 1993 Brunei tuyên bé ranh giới thêm lục địa 200 hải lý và cho rằng Luxia nằm trên thêm lục địa đó sẽ thuộc Brunei. Các nước tranh chap đều đã thể hiện quan điểm của minh về việc mở rộng thêm lục địa ngoài 200 hải lý qua ba cách tiếp cận khác nhau. Malaysia và Việt Nam trình Ủy ban ranh giới thêm lục địa (CLCS) của Liên Hợp Quốc hỗ sơ chung về ranh giới ngoài thêm lục địa ngày 6/05/2009. Việt Nam trình hỗ sơ ranh giới ngoải thêm lục địa khu vực Bắc (VNM) ngày 7/5/2009.
Theo hai quốc gia, việc trình hồ sơ ranh giới ngoài thềm lục địa là việc thực hiện hợp pháp các nghĩa vụ của quốc gia thành viên Công ước luật biên 1982, hoàn toản phù hợp với các quy định của Công ước luật biển 1982 cũng như các Quy tắc thủ tục của CLCS; các ranh giới này đều hoàn toàn nằm ngoai 200 hải lý tính từ đường cơ sở đất liền của hai nước và nằm ngoài các ranh giới thêm lục địa đã được thỏa thuận với các nước liên quan; các hỗ sơ trình nảy không ảnh hưởng đến việc phân định biển giữa các quốc gia có bờ biển đối điện hay tiếp giáp. Trung Quốc và Philippin phản đối vì cho rằng các ranh giới ngoài thềm lục địa này có thé ảnh hưởng đến van dé chủ quyền của các đảo và yêu cầu CLCS không xem xét. Đặc biệt, trong phản đối ngày 7/5/2009 của mình, lần đầu tiên Trung Quốc chính thức hóa đường yêu sách chữ U khi đòi hỏi tat cả vùng nước va các địa vật nằm trong đường nảy thuộc chủ quyền và quyên tai phan của minh. Trung Quốc cho rằng, hé sơ của Malaysia và Việt Nam đã vi phạm chủ quyên, quyền chủ quyền và quyền tài phản của Trung Quốc ở biển Đông.
Brunei và Trung Quốc đều trình CLCS ho sơ Khóa luận tết nghiện GVHD:PGS-TS: Nguyễn Cảnh Huệ 25 SVTH: Dương Thị Thai Quan hệ ASEAN- Trung Quốc về “vin dé biên Đông” từ năm 1995 đến 2010 Thông tin ban đầu.