CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT QUAN HỆ AN NINH, CHÍNH TRỊ MỸ - ASEAN THỜI KỲ SAU CHIẾN TRANH LẠNH (1991 - 2000) 1. Bối cảnh quốc tế, khu vực sau Chiến tranh lạnh và tác động của nó đến quan hệ Mỹ - ASEAN Cuối thập niên 1980, đầu thập niên 1990 được coi là thời điểm có nhiều biến động dữ dội nhất trong lịch sử thế giới kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay. Cuối năm 1989, trong lần gặp gỡ không chính thức giữa Bush và Gorbachor trên đảo Malta, Mỹ và Liên Xô đã tuyên bố chấm dứt cuộc “Chiến tranh lạnh” kéo dài hơn 40 năm giữa hai nước này, đồng thời đánh dấu sự chấm dứt thời kỳ đối đầu giữa hai hệ thống tư bản chủ nghĩa (TBCN) và xã hội chủ nghĩa (XHCN); việc phá bỏ bức tường Berlin (11/1989) đưa đến một nước Đức thống nhất (1990); sự sụp đổ của Chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu (1989 - 1991) và sự tan rã của Liên bang cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết sau sự kiện 19/8/1991 đã làm cho hệ thống XHCN trên thực tế không còn tồn tại nữa. Trật tự thế giới hai cực Yalta, được hình thành từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, đến đây cũng chính thức sụp đổ.
Thế giới bước vào thời kỳ quá độ sang một trật tự mới theo hướng đa cực hóa. Mỹ sau Chiến tranh lạnh tuy bị suy yếu nhiều, sức mạnh tổng hợp của quốc gia có suy giảm tương đối, nhưng “trong thời gian dài từ nay về sau Mỹ vẫn là “quán quân toàn năng” trên thế giới” [9;32]. Bên cạnh đó còn có sự vươn lên của các nước lớn, các trung tâm quyền lực và các chủ thể quan hệ quốc tế lớn như Nga, Nhật Bản, Tây Âu, Trung Quốc, Liên Hợp Quốc, ASEAN… Nhằm chiếm một vị thế có lợi trên trường quốc tế, cả Mỹ lẫn các chủ thể nói trên phải tích cực đấu tranh, tích cực giành quyền chủ động và phát huy vai trò của mình. Ngoài ra, cuộc đấu tranh bảo 8 vệ độc lập chủ quyền của các nước đang phát triển nhằm chống lại sự áp đặt và can thiệp của các nước lớn cũng đã trở thành một xu thế đáng kể trên thế giới.
Như vậy, rõ ràng thế giới đang phát triển theo xu hướng đa trung tâm. Tuy nhiên, một trật tự thế giới mới vẫn chưa định hình mà đang có những thay đổi hết sức nhanh chóng. Chiến tranh lạnh kết thúc đã làm cho cuộc chạy đua vũ trang trên toàn thế giới dịu đi, các quốc gia trên thế giới đều dồn sức vào phát triển kinh tế. Kinh tế dần trở thành vấn đề cốt yếu trong các công việc quốc tế.
Các nước đều nhận thấy rằng muốn tham gia vào dòng chảy chung của cộng đồng các dân tộc trên thế giới thì phải đặt phát triển kinh tế lên vị trí hàng đầu. Chiến tranh lạnh kết thúc đã tạo nên môi trường quốc tế tương đối rộng rãi, cởi mở để phát triển quan hệ kinh tế giữa các nước với nhau. Với nhu cầu phát triển kinh tế các nước, đặc biệt là các cường quốc, đã có những điều chỉnh quan trọng trong chính sách khoa học kỹ thuật của mình. Nhiều công trình nghiên cứu khoa học, kỹ thuật quân sự trước đây được chuyển sang ứng dụng cho các lĩnh vực dân sự.
Điều này có tác dụng quan trọng đối với việc thúc đẩy sản xuất. Cũng từ sau Chiến tranh lạnh, phạm vi cạnh tranh và hợp tác giữa các nước trên toàn thế giới được mở rộng hơn bao giờ hết. Bởi vì, các nước thuộc Liên Xô cũ, Đông Âu, Trung Quốc, Việt Nam cũng như nhiều nước đang phát triển từng chịu ảnh hưởng bởi chính sách kinh tế kế hoạch hóa, tập trung hóa trước đây đã thực hiện cải cách, chuyển sang phát triển kinh tế thị trường mở. Như vậy, Chiến tranh lạnh kết thúc đã mở ra một môi trường mới cho sự phát triển kinh tế thế giới và kinh tế đã trở thành trọng điểm trong quan hệ quốc tế.
Cạnh tranh sức mạnh tổng hợp quốc gia, thay cho sự chạy đua vũ trang, trở thành hình thức chủ yếu để so sánh sức mạnh giữa các cường quốc. Nguy cơ chiến tranh hạt nhân đã bị đẩy lùi, cuộc chạy đua về kinh tế đang trở thành thách thức lớn nhất đối với an ninh của mỗi quốc gia. Điều 9 này, đòi hỏi mỗi quốc gia nếu không muốn tự loại mình ra khỏi vòng đua thì phải tập trung, ưu tiên phát triển kinh tế. Sau Chiến tranh lạnh, hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trở thành xu thế chủ yếu của thế giới.
Kinh nghiệm lịch sử đã chỉ ra rằng chạy đua vũ trang toàn cầu kéo dài hơn 40 năm qua không những không mang lại chiến thắng cho một cường quốc nào, mà còn đẩy thế giới đến nguy cơ hủy diệt bởi vũ khí hạt nhân. Bên cạnh đó, những thành công trong phát triển kinh tế của Nhật Bản, Các nước công nghiệp mới (NICs)… nói chung đều diễn ra trong thời kỳ các quốc gia này chi phí cho quốc phòng thấp và không có chiến tranh, do vậy họ có điều kiện phát triển kinh tế. Ngược lại, các cường quốc như Mỹ, Liên Xô do chi phí cho quốc phòng, chiến tranh lớn, kéo dài nên nền kinh tế của họ đều lâm vào suy thoái. Thực tế đó đã đưa các quốc gia tới việc thực thi chính sách lấy phát triển kinh tế làm trọng tâm, ưu tiên hàng đầu và do đó, họ buộc phải tự kiềm chế, phải giữ gìn sự ổn định, hòa bình và phải hợp tác với nhau.
Các quốc gia, đặc biệt là các cường quốc ngày càng nhận thức rõ rằng “hòa bình, ổn định, đối thoại và hợp tác là con đường tốt nhất để giải quyết các xung đột và các bất đồng giữa các quốc gia” [13;20]. Quan hệ của các cường quốc: Nga, Mỹ, Trung Quốc… thời kỳ sau Chiến tranh lạnh đều được thay đổi theo hướng này. Đông Dương và ASEAN cũng đã chuyển từ đối đầu sang đối thoại và hợp tác ngày càng chặt chẽ hơn. Cuộc chiến tranh Trung Đông giữa Palestin và Israel kéo dài trong nhiều năm cũng đã chuyển sang đối thoại, hợp tác nhiều bên để tìm hướng giải quyết.
Mặc dù hòa bình, ổn định, đối thoại và hợp tác là xu thế chủ yếu, nhưng sau Chiến tranh lạnh thế giới vẫn còn tồn tại không ít nguy cơ, thách thức. Đầu tiên phải kể đến những cuộc xung đột sắc tộc, tôn giáo… như cuộc chiến tranh kéo dài ở Liên bang Nam Tư, các cuộc xung đột rất nóng bỏng ở Afghanistan, Zaia, Trung Đông… Thứ hai, các lực lượng phản động như chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa khủng bố… vẫn còn tồn tại và 10 hoạt động ở hầu hết các quốc gia với nhiều mức độ khác nhau. Thứ ba, các tổ hợp công nghiệp quân sự đang sản xuất, tiêu thụ một khối lượng vũ khí lớn, đa dạng, đang kích động và nuôi dưỡng những cuộc xung đột gây mất ổn định. Thứ tư, là các vấn đề mang tính toàn cầu như tình trạng đói nghèo, bất bình đẳng, ô nhiểm môi trường, ma túy, bệnh tật… cũng dẫn đến sự bất ổn định của xã hội.
Tuy nhiên, dù những nguy cơ và thách thức trên đây có gây ra tác động nào đó cũng không thể ngăn được chiều hướng hòa bình, ổn định, đối thoại và hợp tác đang ngày càng lan rộng [29;37]. Sự chuyển đổi công nghệ từ những năm 1970 và cuộc cách mạng công nghệ thông tin đã thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình toàn cầu hóa. Bắt đầu từ thập niên 1990, xã hội loài người ngày càng bị cuốn vào xu thế toàn cầu hóa. Một mạng lưới toàn cầu về mậu dịch, sản xuất, thông tin, tiền tệ và kỹ thuật đã được hình thành.
Xu thế toàn cầu hóa trở thành một xu thế khách quan không thể đảo ngược. Nó mang lại nhiều cơ hội, đồng thời cũng chứa đựng nhiều thách thức to lớn đối với tất cả các nước trên thế giới, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển. Song song với xu thế toàn cầu hóa là xu thế khu vực hóa. Sự ra đời các tổ chức liên minh khu vực như Liên minh châu Âu (EU), Khu vực Mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA), (ASEAN) và Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR), Hiệp hội tự do thương mại Mỹ Latinh (LAFTA), Hiệp hội khu vực các nước Nam Á (SAARS)… là những ví dụ điển hình về xu thế liên kết khu vực.
Toàn cầu hóa và khu vực hóa không phải là hai xu thế đối nghịch nhau. Ngược lại, khu vực hóa có thể coi là bước đệm, ở mức độ nào đó là sự tập hợp lực lượng giữa các nền kinh tế khu vực để đối phó với những thách thức, cạnh tranh ở tầm toàn cầu. Sau Chiến tranh lạnh, cũng như các nơi khác trên thế giới, Châu Á - Thái Bình Dương (CA - TBD) đang bước vào thời kỳ quá độ từ trật tự thế giới hai cực đối đầu sang một trật tự mới đa cực, đa trung tâm, trong đó vừa 11 đấu tranh vừa hợp tác phát triển với sự tùy thuộc lẫn nhau về kinh tế ngày càng cao. Những thay đổi nhanh chóng đang diễn ra trong khu vực còn được những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật, nhất là công nghệ thông tin đẩy nhanh thêm.
CA - TBD ngày nay, hơn bất cứ nơi nào khác, đang duy trì được tốc độ phát triển kinh tế cao nhất và ổn định nhất với mức tăng trưởng Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hàng năm bình quân trên dưới 6% trong khi ở các khu vực khác chỉ ở mức tăng 1,5 - 3% mỗi năm. Đây cũng là khu vực xuất hiện nhiều sự phát triển “thần kỳ” về kinh tế. Nếu như ở thập niên 60 - 70 là sự thần kỳ Nhật Bản; thập niên 70 - 80 thế giới chứng kiến Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và Hong Kong trở thành bốn “con rồng” Đông Á; thì kể từ thập niên 80 đến nay là sự phát triển của Trung Quốc và ASEAN. Chính sự phát triển kinh tế năng động, ổn định ở mức cao của nhiều nước trong khu vực mà nhiều nhà nghiên cứu đã dự đoán rằng: sang thế kỷ XXI, trung tâm của thế giới sẽ chuyển từ châu Âu - Đại Tây Dương sang CA - TBD.
Cũng vì thế, khu vực CA - TBD, trong đó có ĐNA, đã thu hút sự quan tâm của nhiều cường quốc trên thế giới, trong đó có Mỹ; đồng thời vị thế của các nước ở khu vực ĐNA, đặc biệt là các nước trong tổ chức ASEAN được nâng lên [29;38].