Mở đầu là các cuộc nổi dậy của Văn Thân Nghệ An và Hà Tĩnh và sau đó liên tục các cuộc nổi dậy ở Quảng Bình, Quảng Trị, Thanh Hoá, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Thái Bình, Nam Định… nên thời kỳ này phong trào nổ ra rầm rộ tại các tỉnh Bắc vsf Trung Bộ. Khi vua Hàm Nghi bị bắt ngày 1/11/1888, phong trào vẫn tiếp tục kéo dài đến thế kỷ XIX và có xu hướng ngày càng đi vào chiều sâu Giai đoạn hai: Năm (1888-1896) phong trào Cần Vương không còn đặt dưới sự lãnh đạo của triều đìnhkháng chiến nữa, nhưng vẫn tiếp tục được duy trì và quy tụ xung quanh những cuộc khởi nghĩa lớn như: Khởi nghĩa Ba Đình năm (1881- 1887) do Đốc 8 học Phạm Bành và Đinh Công Tráng lãnh đạo, dựa vào địa thế của ba làng Mởu Thịnh, ThươngThọ, Mã Khê, nghĩa quân đã xây dựng Ba Đình thành một cứ điểm kháng Pháp kiên cố. Nghĩa quân Ba Đình với tinh thần chiến đấu quả cảm, quyết tâm cao và sự giúp đỡ của nhân dân đã đánh lui nhiều đợt tấn công của địch, tiêu diệt hàng trăm tên. Khởi nghĩa Bãi Sậy (1882-1893) do Nguyễn Thiện Thuật lãnh đạo, địa bàn là vùng lau lách um tùm thuọc các huyện Văn Giang, Khoái Châu, Mỹ Hào (Hưng Yên).
Ngày 11/11/1888 nghĩa quân tổ chức đánh úp đội quân địch ở Liêu Trung (Mĩ Hào, Hưng Yên) diệt ba mươi mốt tên trong đó có tên chỉ huy, gây tiếng vang lớn, làm nức lòng nhân dân để đối phó với nghĩa quân thực dân Pháp đã tập trung binh lực và sử dụng các tên tay sai như Nguyễn Trọng Hợp, Hoàng Cao Khải mở cuộc càn quét lớn nhằm vào xung quanh Bãi Sậy, rồi bao vây chặt nghĩa quân. Nghĩa quân chiến đấu anh dũng song cuối cùng khởi nghĩa đã hoàn tàon thất bại, những người lãnh đạo đều hy sinh. Khởi nghĩa Hùng Lĩnh năm (1887-1892) do Tống Duy Tân và Cao Điển lãnh đạo căn cứ chính là Hùng Lĩnh, ngoài ra nghĩa quân còn mở rộng hoạt động đến các vùng tả hữu ngọn sông Mã, phối hợp với Đề Kiều, Đốc Ngữ chống phá ở vùng hạ lưu sông Đà, với Phan Đình Phùng ở Hưng Khê. Về tổ chức, nghĩa quân Hùng Lĩnh lập ra các cơ sở (khoảng 200 người) lấy tên huyện đặt tên cho đơn vị như Tống Thanh Cơ, Nông Thanh Cơ… trong những năm 1889, 1890, nghĩa quân đã tổ chức những trận đánh lớn, gây cho địch nhiều tổn hại.
Sau các cuộc càn quét của địch, nghĩa quân phải ở dần lên vùngTây Bắc của Thanh Hoá. Tại đây họ được bổ sung thêm lực lượng và đẩy mạnh hoạt động 3/1980, thựcdân Pháp liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét, địa bàn hoạt động của nghĩa quân bị thu hẹp nhiều và cuối cùng cũng bị thất bại. Khởi nghĩa Hương Khê: Năm (1885-1888) do Phan Đình Phùng lãnh đạo.Cuộc hởi nghĩa phát triển qua hai giai đoạn: Thời kỳ xây dựng lực lượng năm (1885- 1896)và thời kỳ chiến đấu của nghĩa quân năm (1888-1896) trên cơ sở của một loạt các cuộc nổi dậy hưởng ứng chiếu cần vương nổ ra từ năm 1885, trong đó cps các cuộc khởi nghĩa của Lê Ninh (La Sơn) Cao Thắng(Hương Sơn), Nguyễn Thạch, Ngô Quảng, Hà Văn Mĩ (Nghi Xuân)… Phan Đình Phùng đã tập hợp và phát triển thành một phong trào 9 chống Pháp có quy mô lớn bao gồm bốn tỉnh, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình. Người trợ thủ đắc lực nhất của Phan Đình Phùng là và cũng là một chỉ huy xuất sắc của khởi nghĩa Hương Khê là Cao Thắng.
Điểm nổi bật của khởi nghĩa Hương Khê là một tổ chức tương đối chặt chẽ và quy mô rộng lớn và họt động dai dẳng của nó. Nghĩa quân Hương Khê được tổ chức thành mười lăm quân quân thứ các quân thứ này mang tên địa phương là con thứ (Huyện Cam Lộ), Hương Thứ (Huyện Hương Sơn) … Trong cuộc chiến đấu ác liệt dể bảo vệ căn cứ, chủ tướng Phan Đình Phùng bị thương nặng và hi sinh. Đến đây thì khởi nghĩa Hương Khê chấm dứt. Khởi nghĩa thất bại song là cuọc khởi nghĩa lớn nhất trong phong trào Cần Vương chông Pháp cuối thế kỷ XIX.
Cuộc khởi nghĩa này đã đựoực duy trì suốt mười năm, hoạt động trên một địa bàn rộng lớn và được ủng hộ của quần chúng nhaan dân. Sau khởi nghĩa Hương Khê, phong trào Cần Vương về cơ bản đã chấm dứt nhưng nhiều nhà yêu nước vẫn nổi dậy chống Pháp. Một số theo khuynh hướng mới, một số tham gia vào các hoạt động của khởi nghĩa Yên Thế của Hoàng Hoa Thám lãnh đạo năm (1884-1913). Cùng thời gian này còn có cuộc khởi nghĩa Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo là cuộc khởi nghĩa lớn nhất, bền bỉ nhất tiêu biểu cho tinh thần bất khuất của nhân dân trong phong trào chống phá cuối thế kỷ XIX khởi nghĩa diễn ra âu rộng thu hút dông đảo nhân dân tham gia, dưới nhiều hình thức đấu tranh khác nhau đã làm cho thực dân Pháp trước sức mạnh của nhân dân và làm tiêu hao nhiều sinh lực của địch.
Cuộc khởi nghĩa diễn ra bốn giai đoạn song nghĩa quân đều rất anh dũng, sẵn sàng hi sinh, lại được sự ủng hộ đông đảo của nhân dân nên ngày một lớn mạnh. Tuy nhiên thực dân Pháp đã tập trung lực lượng lớn càn quét, bắn giết trước sự chênh lệch lớn về lực lượng khởi nghĩa đã thất bại. Tuy vậy khởi nghĩa Yên Thế là phong trào đấu tranh lớn nhất của nhân dân trong nhưng năm cuối thế kỷ XIX. Sự tồn tại bền bỉ dẻo dai của phong trào đã phản ánh sức mạnh to lớn tiềm tàng của nhân dân nước ta.
Ngoài ra còn một loạt cuộc nổi dậy của nhân dân ta đã nổ ra tiêu biểu là các cuộc nổi dậy của đồng bào dân tộc Stiêng, Mơnông ở nam bộ, của đông bào Mường … 10 Tóm lại: Thất bại của phong trào cần vương chứng tỏ sự bất lực của hệ tư tưởng phong kiến trong việc giải quyết nhiệm vụ dành độc lập cho lịch sử đặt ra và từ đây phong trào cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới. bbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbb bbbbbbbbbbbbbbbbbbb b, Phong trào yêu nước Việt Nam theo khuynh hướng dân chủ tư sản. Đầu thế kỷ XIX, châu Á thức tỉnh: Phong trào cách mạng dân chủ tư sản ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa như Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc, ấn Độ… mang một nội dung mới đấu tranh yêu nước giải phóng dân tộc kêt hợp với đấu tranh dành quyền dân chủ ở nước ta vào những năm đầu thế kỷ XX, trước những yêu cầu mới của lịch sử, những phần tử ưu tú trong trong hàng ngũ trí thức phong kiến đã nhận thấy “quan niệm trung quân ái quốc” thời kỳ Cần Vương không có tác dụng tập hợp nhân dân nữa đúng lúc đó, các tân thư, tân báo của Trung Quốc dội vào nước ta, đáng kể nhất là các tác phẩm, ẩm băng Thất, Trung Quốc hồn, Mậu Tuất chính biến, Tân dần tuần báo… của Lương Khải Siêu và Khang Hữu Vi cũng giới thiệu những tư tưởng dân chủ tư sản của phương tây, dưới lăng kính của tư tưởng lập hiến các trào lưu tư tưởng đó đã cổ vũ, hướng họ theo lý tưởng của cuộc cách mạng Pháp năm (1789), cuộc vận động Duy Tân năm (1898) và cuộc cách mạng Tân Hợi năm (1911) ở Trung Quốc, giúp họ đoạn tuyệt những tư tưởng quân chủ lập hiến chuyển sang tư tưởng cộng hoà. Mặt khác công cuộc xây dựng đất nước thành công của tư bản Nhật càng củng cố niềm tin của các sỹ phu yêu nước vào con đường cách mạng tư sản.
Tiêu biểu cho khuynh hướng này là các phong trào: Phan bội châu và phong trào Đông Du. Với quan điểm “nợ máu chỉ có thể trả bằng máu”, ngay từ đầu Phan Bội Châu đã kiên trì giành độc lập bằng con đường bạo lực vì vậy ngay từ đầu thế kỷ XX ông đã chuẩn bị công cuộc bạo động đánh Pháp. Tuy nhiên như ông nói: “ Là một nghười trong tay không có một miếng sắt, trên mặt đất không có lấy một chỗ đứng chân, chẳng qua chỉ 11 là một thằng tay không chân trắng , tài hèn sức yếu, mà lại đòi vật lộn với hùm beo có nanh dài vuốt nhọn”và: “ Đến nỗi này tôi không thể nào không sang con đường bạo động. Vẫn biết bạo động với tự sát đều là việc làm của những kẻ kiến thức hẹp hòi, không biết lo xa, nhưng nếu tình thế buộc phải tự sát thì thà rằng xoay ra bạo động, thà chết còn hơn.
Phan Bội Châu chủ trương dựa vào sự giúp đỡ bên ngoài, chủ yếu là Nhật Bản, để đánh Pháp dành độc lập dân tộc, thiết lập một nhà nước theo mô hình quân chủ lập hiến của Nhật vào tháng 5/1904, Phan Bội Châu, Cường Để và trên hai mươi đồng chí họp tại nhà riêng của ông. Nguyễn Hàm bí mật lập ra Duy Tân hội, mục đích của hội là “cốt sao khôi phục được nước Việt Nam, ngoài ra chưa có chủ trương gì khác”. Ông tổ chức phong trào Đông Du (1906-1908), tức phong trào đi du học ở phương tây và ông cho rằng nên cầu viện Nhật Bản là nước đồng Văn, đồng chủng. Những người du học sinh được đào tạo về văn hoá và quân sự cần thiết cho công cuộc đánh Pháp cứu nước và kiến thiết đất nước.
Phong trào đông du ngày càng lớn mạnh, thực dân Pháp một mặt tiến hành khủng bố, mặt khác tiến hành cấu kết với Nhật trục xuất những người yêu nước Việt Nam ra khỏi nước Nhật trong đó có cả Phan Bội Châu. Phan Bội Châu nhận thấy được bản chất của chủ nghĩa thực dân chúng đầu như nhau đầu đàn áp các phong trào cách mạng của nhân dân. Chủ trương dựa vào Nhật đánh Pháp không thành ông về Xiêm nằm chờ thời cơ. Giữa lúc đó cách mạng Tân Hợi bùng nổ và thắng lợi (1911).
Ông về Trung Quốc lập ra Việt Nam quang phục hội (1912) với ý định tập hợp lực lượng rồi kéo quân về nước võ trang bạo động đánh Pháp, giải phóng dân tộc nhưng cuối cùng cũng thất bại. Phong tào Duy Tân (1906-1908). Trong lúc phong trào Đông Du những hoạt động của Duy Tân Hội diễn ra sôi nổi thì Phan Chu Trương và một số sĩ phu yêu nước chủ trương tiến hành một phong trào Duy Tân. Để thực hiện mục tiêu trên, Phan Chu Trinh chủ trương tạm thời dựa vào Pháp để đánh đổ phong kiến, dành lại quyền lực cho nhân dân, sau đó sẽ đánh đổ đế quốc, dành độc lập dân tộc.