ĐẶT VẤN ĐỀ Theo thống kê của tổ chức Y tế thế giới, năm 2000, trên toàn thế giới đã có hơn 972 triệu ngƣời mắc bệnh tăng huyết áp, con số này đƣợc dự đoán có thể tăng lên tới khoảng 1,56 tỷ ngƣời vào năm 2025. Tỷ lệ ngƣời bị tăng huyết áp tăng lên gắn liền với nhu cầu sử dụng các thuốc điều trị bệnh lý này. Bên cạnh việc sử dụng các nhóm thuốc điều trị, rất nhiều bệnh nhân còn sử dụng kèm theo các thực phẩm bảo vệ sức khỏe có nguồn gốc từ thảo dƣợc với suy nghĩ đem lại hiệu quả hỗ trợ điều trị và gây ra ít tác dụng không mong muốn hơn khi dùng thuốc. Để nâng cao hiệu quả cũng nhƣ lợi nhuận, một số đơn vị sản xuất đã tiến hành trộn trái phép các thuốc hóa dƣợc vào những sản phẩm này.
Rất nhiều nghiên cứu đã đƣợc công bố trên thế giới, phát hiện một số thuốc hạ huyết áp nhƣ nifedifin, amlodipin, valsartan, furosemid…đƣợc thêm vào các sản phẩm đông dƣợc [25, 26]. Tại Viêt Nam, Trần Thị Hoài Ân đã sử dụng phƣơng pháp LC-MS để xác định đồng thời amlodipin besylat, atenolol, nifedipin, valsartan, hydroclorothiazid và furosemid [2]. Trần Lệ Hoa sử dụng phƣơng pháp HPLC và HPTLC (với hai hệ pha động khác nhau) để phát hiện AML, NIF, FEL và VAL[10]. Mặc dù LC-MS hay HPLC có độ nhạy, độ chọn lọc cao nhƣng đắt tiền và tốn thời gian phân tích.
Phƣơng pháp đơn giản, nhanh, chi phí thấp là TLC và HPTLC thƣờng đƣợc thực hiện đầu tiên để sơ bộ phát hiện các thuốc hóa dƣợc có mặt trong chế phẩm đông dƣợc. Một số nghiên cứu đã công bố sử dụng HPTLC để xác định các thuốc hóa dƣợc trộn trái phép trong chế phẩm đông dƣợc, bao gồm các thuốc nhóm glucocorticoid, NSAIDs, ức chế PDE-5, hạ glucose máu [14], kháng histamin H1[12]. Các nghiên cứu này đã phát hiện đƣợc 1 số thuốc hóa dƣợc trong mẫu chế phẩm đông dƣợc, khi đánh giá lại bằng phƣơng pháp LC-MS hoặc HPLC cho kết quả tƣơng đƣơng. Do đó, đề tài: “Xây dựng phƣơng pháp xác định một số thuốc hóa dƣợc nhóm hạ huyết áp và lợi tiểu trộn không khai báo trong chế phẩm đông dƣợc bằng HPTLC” đƣợc thực hiện với mục tiêu: 1.
Xây dựng phương pháp xác định amlodipin besylat, nifedipin, felodipin, furosemid và spironolacton trộn lẫn trong chế phẩm đông dược bằng HPTLC. Ứng dụng phương pháp xác định amlodipin besylat, nifedipin, felodipin, furosemid và spironolacton trộn lẫn trong các chế phẩm đông dược (nếu có). 1 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về đối tƣợng nghiên cứu 1.
Amlodipin besylat Công thức: Hình 1. 1: CTCT của Amlodipin besylat CTPT: C20H25ClN2O5.C6H6O3S ptl: 567,05 Tên khoa học: 3-ethyl 5-methyl (4RS)-2-[10]-4-(2-clorophenyl)-6-methyl-1,4- dihydropyridin-3,5-dicarboxylat benzensulfonate. Tính chất: Bột màu trắng hoặc gần nhƣ trắng. Dễ tan trong methanol, hơi tan trong ethanol khan, khó tan trong nƣớc và 2-propanol[3].
Tác dụng dược lý: Amlodipin là dẫn chất của dihydropyridin có tác dụng chẹn dòng vào calci qua màng tế bào, ngăn chặn kênh calci loại L phụ thuộc điện thế, tác động trên các cơ trơn mạch máu và tim, có tác dụng chống tăng huyết áp bằng cách trực tiếp làm giãn cơ trơn quanh động mạch ngoại biên và ít có tác dụng hơn trên kênh calci cơ tim. Tác dụng không mong muốn: Thƣờng gặp là phù cổ chân từ nhẹ đến trung bình, nhức đầu, chóng mặt, đỏ bừng mặt và có cảm giác nóng, mệt mỏi, suy nhƣợc. Chỉ định: Điều trị tăng huyết áp; Điều trị đau thắt ngực. Liều dùng: 5 mg/lần ngày uống 1 lần[4].
Nifedipin Công thức: 2 Hình 1. 2: CTCT của Nifedipin CTPT: C17H18N2O6 ptl: 346,34 Tên khoa học: Dimethyl-1,4-dihydro-2,6-dimethyl-4-(2-nitrophenyl) pyridin- 3,5dicarboxylat Tính chất: Bột kết tinh màu vàng nhạt, không tan trong nƣớc, tan trong ethanol, methanol, ether[3]. Tác dụng dược lý: Là thuốc chẹn kênh calci thuộc nhóm dihydropyridin, có tác dụng ức chế chọn lọc dòng ion calci đi vào trong tế bào, bằng cách tƣơng tác đặc hiệu với kênh calci ở màng tế bào, làm giảm sức căng ở cơ trơn các tiểu động mạch do đó làm giảm sức cản ngoại vi và làm giảm huyết áp. Chỉ định: Đau thắt ngực đặc biệt khi có yếu tố co mạch nhƣ trong đau thắt ngực kiểu Prinzmetal, đau thắt ngực ổn định mạn tính, tăng huyết áp, hội chứng Raynaud.
Tác dụng không mong muốn: Thƣờng gặp là gây hạ huyết áp quá mức, gây tim đập nhanh do phản xạ nên có thể dẫn đến thiếu máu cục bộ cơ tim hoặc não. Liều dùng: 10 mg/lần, ngày uống 3 lần[5]. 3: CTCT của Felodipin 3 CTPT: C18H19Cl2NO4 ptl: 384,523 Tên khoa học: 5-O-ethyl 3-O-methyl 4-(2,3-dichlorophenyl)-2,6-dimethyl-1,4- dihydropyridine-3,5-dicarboxylate Tính chất: Bột màu trắng hoặc gần nhƣ trắng. Khó tan trong nƣớc và isopropanol, tan nhiều trong methanol[3].
Tác dụng dược lý: là một chất chẹn kênh calci chậm có tính chất chọn lọc thuộc dẫn chất 1,4-dihydropyridin. Thuốc ức chế calci đi vào trong tế bào cơ trơn bằng cách tác động đến kênh calci chậm nên làm giảm trƣơng lực động mạch, dẫn đến tác dụng giãn mạch làm hạ huyết áp. Chỉ định: Bệnh tăng huyết áp, dự phòng đau thắt ngực ổn định. Tác dụng không mong muốn: Thƣờng gặp là đau đầu, mặt đỏ bừng hoặc cảm giác nóng bừng, phù mạch, nhịp nhanh.
Có hiện tƣợng phù mắt cá chân liên quan đến tác dụng giãn mạch. Liều dùng: 5 mg/lần ngày uống 1 lần[6]. 4: CTCT của Furosemid CTPT: C12H11ClN2O5S ptl: 330,74 Tên khoa học: acid 4-chloro-5-sulfamoyl -2-[(2-furanylmethyl)amino] benzoic. Tính chất: Bột kết tinh màu trắng, không mùi, không vị.
Không tan trong nƣớc, khó tan trong ether, tan trong aceton, methanol, hơi tan trong ethanol, rất tan trong dimethyl formamid, tan trong dung dịch kiềm loãng. Dƣới tác dụng của ánh sáng, furosemid biến màu dần[7]. Tác dụng dược lý: Là thuốc lợi tiểu dẫn chất sulfonamid thuộc nhóm tác dụng mạnh, nhanh, phụ thuộc liều lƣợng, có tác dụng ức chế đồng vận chuyển Na+ - K+- 2Cl- ở đoạn dày nhánh lên của quai Henle, làm tăng thải trừ những chất điện giải trên kèm theo tăng bài xuất nƣớc. Có tác dụng lợi tiểu nhanh, mạnh.
4 Chỉ định: Phù trong suy tim sung huyết, bệnh thận và xơ gan. Hỗ trợ điều trị phù phổi cấp. Đái ít do suy thận cấp hoặc mạn tính. Tăng huyết áp, đặc biệt khi do suy tim sung huyết hoặc do suy thận.
Điều trị hỗ trợ cơn tăng huyết áp. Tăng calci huyết. Tác dụng không mong muốn: Thƣờng gặp khi điều trị liều cao, hay gặp nhất là mất cân bằng nƣớc và điện giải, đặc biệt ở ngƣời suy gan, suy thận, sau khi dùng liều cao và kéo dài. Các dấu hiệu của mất cân bằng điện giải bao gồm đau đầu, tụt huyết áp, hoa mắt, chóng mặt, rối loạn thị giác, chuột rút, khô miệng, khát nƣớc, yếu,mệt, ngủ lịm, buồn ngủ, không ngủ đƣợc, đái ít, loạn nhịp tim và rối loạn tiêu hóa.
Mất cân bằng điện gây nên tình trạng đau đầu, tụt huyết áp, chóng mặt, chuột rút, loạn nhịp tim, rối loạn tiêu hóa. Liều dùng: 20 mg – 40 mg / lần ngày uống 2 lần[8]. Spironolacton Công thức: Hình 1. 5: CTCT của Spironolacton CTPT: C24H32O4S ptl: 416,57 Tên khoa học: γ-lacton của acid 7α-acetylthio-17β-hydroxy-3-oxo-pregn-4-en-21- carboxylic Tính chất: Bột kết tinh màu trắng hoặc hơi vàng, mùi lợm giọng, vững bền ở ngoài không khí.
Không tan trong nƣớc, dễ tan trong cloroform, tan trong ethanol. Tác dụng dược lý: Spironolacton là một steroid có cấu trúc giống aldosteron (hormon tuyến thƣợng thận). Thuốc là chất đối kháng thụ thể mineralocorticoid không chọn lọc (aldosteron) và cũng là một chất đối kháng thụ thể androgen và progesteron. Spironolacton có tác dụng giữ magnesi và kali, natri-niệu, lợi tiểu và làm hạ huyết áp do ức chế cạnh tranh tác dụng sinh lý của aldosteron trên ống lƣợn xa, cơ tim và hệ mạch Chỉ định: Phù do tăng quá mức aldosteron (nhƣ phù vô căn, phù do xơ gan, hội chứng thận hƣ, suy tim sung huyết).
Thƣờng phối hợp với các thuốc lợi tiểu khác hoặc 5 thuốc chống tăng huyết áp. Tác dụng kém nếu dùng đơn độc. Tác dụng không mong muốn: Thƣờng gặp là mệt mỏi, nhức đầu, ngủ gà, lú lẫn. Nội tiết: Tăng prolactin, to vú đàn ông, chảy sữa nhiều, rối loạn kinh nguyệt, mất kinh, chảy máu sau mãn kinh, liệt dƣơng, rậm lông.
Tiêu hóa: Tiêu chảy, buồn nôn, chán ăn, đau quặn bụng Liều dùng: 25 mg/lần ngày uống 1 lần[9]. Tình hình nghiên cứu các thuốc hóa dƣợc hạ huyết áp, lợi tiểu trộn trái phép trong chế phẩm đông dƣợc 1. Trên thế giới Các nhóm thuốc nhƣ thuốc ức chế PDE-5[23], corticoid[21], thuốc điều trị bệnh đái tháo đƣờng[20] là các nhóm thuốc thƣờng bị trộn lẫn vào các chế phẩm đông dƣợc, đã đƣợc nhiều nhà khoa học nghiên cứu rộng rãi. Bên cạnh đó, các nghiên cứu phát hiện, xác định các thuốc thuộc nhóm thuốc hạ huyết áp, lợi tiểu trong sản phẩm đông y cũng đã và đang đƣợc tiếp tục nghiên cứu trên thế giới.
Có thể kể đến một số nghiên cứu nổi bật dƣới đây. Changchuan Guo và các cộng sự (2020) đã tiến hành phân tích, xác định 50 hợp chất hạ huyết áp trộn trái phép trong 65 lô thực phẩm chức năng, thảo dƣợc. Phƣơng pháp đƣợc áp dụng trong nghiên cứu này là UPLC và Q–Orbitrap HRMS. Qua phân tích cho thấy, 9 trong 65 lô phát hiện thấy các hợp chất hạ huyết áp nhƣ nifedipine, propranolol, reserpine, hydrochlorothiazide với hàm lƣợng từ 2,8 đến 27,9 mg/g[17].
và cộng sự (2009) đã tiến hành nghiên cứu phát hiện các hợp chất hạ huyết áp đƣợc trộn trong các thực phẩm bổ sung, thuốc cổ truyền Trung Quốc áp dụng phƣơng pháp LC – MS. Cột C18 XtimateTM (5mm, 250 x 4,6 mm); pha động gồm methanol, acetonitril và amoni format chạy theo chế độ gradient thích hợp đƣợc áp dụng vào nghiên cứu. Các thuốc hạ huyết áp trái phép đƣợc phát hiện bởi detector MS với đầu dò ESI. Kết quả cho thấy một số chất nhƣ hydrochlorothiazide, clonidine, triamterene bị trộn không khai báo với hàm lƣợng từ 0,01 – 10,49% trong một số mẫu thử [26].
Năm 2020, Yisheng Chen và các cộng sự của mình đã công bố nghiên cứu phát hiện sự có mặt trái phép của nifedipin có trong thực phẩm chức năng chứa thành phần chính là ginkgo biloba dựa trên phƣơng pháp HPTLC kết hợp với quét SERS. Dung môi pha động là hỗn hợp toluen – ethyl acetat theo tỷ lệ 8:2 (v/v) để tối ƣu khả năng tách chất cần phân tích nifedifin ra khỏi các hoạt chất có hoạt tính sinh học trong mẫu. Tấm HPTLC đƣợc khai triển bởi bình khai triển ADC-2 (CAMAG, Thụy Sĩ). Sau quá trình tách sắc ký, bản mỏng đƣợc sấy ở 60oC trong 5 phút, sau đó quan sát và đánh dấu 6 các vết quan tâm bằng bút chì mềm.
Dùng micropipet nhỏ 5 μL hỗn dịch nano bạc, để khô và đo quang phổ Raman để định lƣợng. Dữ liệu thu đƣợc đƣợc xử lý trên phần mềm Labspec 5 phiên bản 9.