Tổng quan nghiên cứu

Giai đoạn 15 năm từ 1930 đến 1945 được xem là thời kỳ đỉnh cao của văn học hiện thực phê phán Việt Nam với hàng loạt kiệt tác phản ánh sâu sắc bức tranh xã hội thực dân nửa phong kiến. Tuy nhiên, theo số liệu khảo sát thực tế năm 2011 tại trường Trung học phổ thông Vân Tảo (Hà Nội), có đến 48,7% học sinh không nắm được chính xác tên các tác phẩm văn học hiện thực trong chương trình lớp 11, dù có hơn 82% học sinh bày tỏ sự yêu thích đối với mảng đề tài này. Thực trạng đó chỉ ra một nghịch lý lớn: học sinh có hứng thú nhưng hiệu quả tiếp nhận và năng lực ghi nhớ kiến thức còn nhiều hạn chế.

Vấn đề cốt lõi bắt nguồn từ sự khủng hoảng phương pháp giảng dạy trong nhà trường phổ thông. Nhiều giáo viên vẫn duy trì lối truyền thụ kiến thức một chiều, biến giờ học thành những buổi diễn thuyết khô khan, khiến học sinh thụ động lắng nghe và ghi chép máy móc. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là khảo sát toàn diện thực trạng dạy học Ngữ văn 11 ban Cơ bản, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đổi mới phương pháp giảng dạy hai tác phẩm trọng tâm: đoạn trích "Hạnh phúc của một tang gia" (tiểu thuyết "Số đỏ" của Vũ Trọng Phụng) và truyện ngắn "Chí Phèo" của Nam Cao.

Phạm vi nghiên cứu được triển khai trực tiếp trên 82 học sinh khối 11 và 9 giáo viên tổ Ngữ văn tại trường THPT Vân Tảo trong năm học 2011-2012. Nghiên cứu bám sát Điều 5 Luật Giáo dục và định hướng Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2009-2020 về việc phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. Ý nghĩa của đề tài được lượng hóa thông qua việc xây dựng bộ giáo án thể nghiệm giúp tăng hơn 25% mức độ tương tác trong lớp học, đồng thời cung cấp mô hình sư phạm thực nghiệm giúp 100% giáo viên tham gia khảo sát có thêm căn cứ khoa học để hoàn thiện kỹ năng tổ chức giờ dạy văn học hiện thực phê phán.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên sự tích hợp của 3 trụ cột lý thuyết sư phạm và văn học hiện đại. Thứ nhất là lý thuyết dạy học tích cực lấy người học làm trung tâm, nhấn mạnh việc chuyển hóa quá trình đào tạo thành tự học có hướng dẫn dưới sự tổ chức của người thầy. Thứ hai là lý thuyết tiếp nhận văn học dựa trên mối quan hệ tam giác biện chứng giữa giáo viên (chủ thể định hướng), học sinh (chủ thể tiếp nhận) và văn bản nghệ thuật (đối tượng tiếp nhận). Thứ ba là lý thuyết thi pháp học và phong cách nghệ thuật tác giả, tập trung vào bút pháp trào phúng hoạt kê của Vũ Trọng Phụng và nghệ thuật điển hình hóa tâm lý sắc bén của Nam Cao.

Khung nghiên cứu vận dụng 4 khái niệm cốt lõi: đổi mới phương pháp dạy học, văn học hiện thực phê phán giai đoạn 1930-1945, phong cách nghệ thuật cá nhân và năng lực đọc hiểu văn bản văn học. Luận văn tiếp thu các quan điểm hiện đại từ các công trình nghiên cứu phương pháp dạy học của các chuyên gia đầu ngành trong nước, đồng thời khẳng định việc giảng dạy tác phẩm văn chương vừa phải bảo đảm tính khoa học chính xác, vừa phải giữ trọn tính nghệ thuật ngôn từ giàu xúc cảm.

Phương pháp nghiên cứu

Để bảo đảm tính khách quan và độ tin cậy khoa học, nghiên cứu sử dụng hệ thống dữ liệu đa nguồn kết hợp giữa nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn. Nghiên cứu lý luận thực hiện tổng hợp và phân tích hơn 30 tài liệu chuyên khảo, giáo trình văn học sử giai đoạn 1930-1945 và các văn bản chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Nghiên cứu thực tiễn được tiến hành trên cỡ mẫu gồm 82 học sinh thuộc 2 lớp 11A1, 11A2 và 9 giáo viên dạy Ngữ văn tại trường THPT Vân Tảo (Hà Nội). Phương pháp chọn mẫu chủ đích được áp dụng nhằm lựa chọn đúng đối tượng học sinh ban Cơ bản đang trực tiếp tiếp cận 2 bài học trọng tâm theo phân phối chương trình chuẩn. Phương pháp phân tích dữ liệu bao gồm thống kê mô tả tần suất, tỷ lệ phần trăm từ các phiếu hỏi định lượng, kết hợp phân tích định tính từ các biên bản phỏng vấn sâu giáo viên và phiếu quan sát giờ học. Việc lựa chọn phối hợp hai phương pháp này nhằm đối chiếu chéo giữa nhận thức lý luận của giáo viên với hành vi học tập thực tế của học sinh. Timeline nghiên cứu được thực hiện đồng bộ trong năm học 2011-2012, chia làm 3 giai đoạn: xây dựng công cụ điều tra, thu thập dữ liệu thực địa và thiết kế thể nghiệm sư phạm.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tiễn tại trường THPT Vân Tảo mang lại 3 phát hiện định lượng quan trọng về thực trạng dạy và học văn học hiện thực phê phán:

Thứ nhất, tồn tại sự chênh lệch lớn giữa thái độ yêu thích và năng lực tự học của học sinh. Có 82% học sinh (67/82 em) cho biết rất thích học các tác phẩm "Chí Phèo" và "Hạnh phúc của một tang gia". Tuy nhiên, có đến 48,8% học sinh (40/82 em) thừa nhận không soạn bài ở nhà, 12,2% chỉ soạn bài không thường xuyên mang tính đối phó và chỉ có 39% học sinh có ý thức đọc và soạn bài đầy đủ trước giờ lên lớp. Đáng chú ý, chỉ 8,5% học sinh từng chủ động tìm đọc thêm tài liệu tham khảo ngoài sách giáo khoa.

Thứ hai, giáo viên còn lúng túng và rập khuôn trong việc lựa chọn phương pháp. Trong số 9 giáo viên được khảo sát, có 7 giáo viên (khoảng 77,8%) sử dụng phương pháp đàm thoại phát vấn nhưng thừa nhận các câu hỏi đặt ra chủ yếu dựa trên cảm tính. Chỉ có 2/9 giáo viên (khoảng 22,2%) nắm vững và áp dụng hệ thống thứ bậc độ khó của câu hỏi. Đặc biệt, có đến 8/9 giáo viên (khoảng 88,9%) không tổ chức cho học sinh đọc văn bản trực tiếp trên lớp vì áp lực không đủ thời gian trong định mức 2 tiết cho mỗi bài học.

Thứ ba, sự thiếu thốn về hạ tầng thiết bị cản trở việc đổi mới phương pháp trực quan. Có 7/9 giáo viên (77,8%) và gần 49% học sinh (40/82 em) mong muốn được học qua phương pháp trực quan kết hợp nêu vấn đề. Thế nhưng toàn trường chỉ có duy nhất 1 phòng học đa năng, khiến việc ứng dụng tranh ảnh, tư liệu phim tài liệu hoặc phim chuyển thể điện ảnh gần như không thể thực hiện thường xuyên trong 100% các tiết dạy chính khóa.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng trên là do quán tính nghề nghiệp và thói quen dạy học truyền thống đã ăn sâu suốt nhiều năm. Giáo viên thường đầu tư nhiều vào việc chuẩn bị kiến thức chuyên môn thuần túy nhưng chưa chú trọng đúng mức đến nghiệp vụ phương pháp sư phạm. Khung phân phối chương trình hiện hành với thời lượng chỉ 2 tiết cho tác phẩm có quy mô đồ sộ như "Chí Phèo" hay "Số đỏ" khiến giáo viên bị cuốn vào áp lực truyền tải hết kiến thức nội dung, buộc phải cắt giảm thời gian đọc diễn cảm và các hoạt động thảo luận nhóm.

Để trực quan hóa các kết quả này, dữ liệu nghiên cứu có thể được trình bày thông qua một bảng ma trận đối sánh giữa tỷ lệ hứng thú của học sinh (82%) với tỷ lệ chuẩn bị bài thực tế (39%), hoặc biểu đồ cột phản ánh sự chênh lệch giữa nhu cầu đổi mới phương pháp trực quan của giáo viên (77,8%) so với năng lực đáp ứng cơ sở vật chất của nhà trường (khoảng 11,1% theo tỷ lệ phòng học đạt chuẩn). So sánh với các nghiên cứu phương pháp luận văn học trước đây, kết quả luận văn tái khẳng định nhận định của các nhà giáo dục hàng đầu: giờ học văn hiện nay vẫn nặng tính phân tích xã hội học thuần túy, thiếu vắng sự rung cảm thẩm mỹ và biến học sinh thành người ngoài cuộc thay vì người đồng sáng tạo cùng tác giả.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để các hạn chế trên, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động đồng bộ:

Thứ nhất, chuẩn hóa quy trình hướng dẫn học sinh đọc và tự học ở nhà. Giáo viên bộ môn Ngữ văn cần ban hành khung soạn bài định hướng gồm 7 bước: tóm tắt văn bản bằng lời văn cá nhân, phân chia bố cục, xác định nội dung chính từng đoạn, phân tích chi tiết ngoại hình và diễn biến tâm lý nhân vật chính, rút ra giá trị tư tưởng, liệt kê biện pháp nghệ thuật đặc sắc và liên hệ bài học bản thân. Mục tiêu là nâng tỷ lệ học sinh chủ động chuẩn bị bài từ 39% lên trên 75% ngay trong học kỳ 1 của năm học.

Thứ hai, phục hồi và tối ưu hóa phương pháp đọc diễn cảm trên lớp. Giáo viên trực tiếp đứng lớp cần dành từ 10 đến 15 phút trong mỗi tiết dạy để tổ chức cho học sinh đọc các đoạn trích đắt giá kết hợp nhập vai nhân vật. Đối với "Hạnh phúc của một tang gia", hướng dẫn học sinh thể hiện giọng điệu trào phúng, mỉa mai qua các cảnh đám ma gương mẫu. Đối với "Chí Phèo", tập trung đọc diễn cảm đoạn độc thoại mở đầu và tiếng khóc ăn năn, bảo đảm 100% học sinh nắm vững văn bản trước khi đi vào phân tích chi tiết.

Thứ ba, thiết lập hệ thống câu hỏi đàm thoại phân tầng và dạy học nêu vấn đề. Tổ chuyên môn Ngữ văn cần xây dựng ngân hàng câu hỏi theo 4 cấp độ nhận thức: nhận biết, thông hiểu, vận dụng thấp và vận dụng cao. Đưa vào các bài tập sáng tạo như đóng vai Xuân Tóc Đỏ tự thuật hành trình thăng tiến hoặc tranh luận về kết thúc bi kịch của Chí Phèo, mục tiêu nâng tỷ lệ học sinh chủ động phát biểu ý kiến lên trên 60% trong mỗi giờ học xuyên suốt cả năm học.

Thứ tư, nâng cấp trang thiết bị và đẩy mạnh phương tiện trực quan. Ban Giám hiệu nhà trường phối hợp cùng Sở Giáo dục và Đào tạo bố trí kinh phí trang bị thêm máy chiếu, tư liệu hình ảnh và trích đoạn phim chuyển thể điện ảnh, phấn đấu đạt mục tiêu tổ chức tối thiểu 1 đến 2 tiết dạy đa phương tiện chất lượng cao cho mỗi bài học văn học hiện thực trong mỗi kỳ học.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho 4 nhóm đối tượng cụ thể sau:

Nhóm thứ nhất là giáo viên Ngữ văn tại các trường THPT. Luận văn cung cấp trọn bộ giáo án thể nghiệm chi tiết, khung câu hỏi phân tầng và các kỹ thuật sư phạm cụ thể giúp tối ưu hóa thời lượng 2 tiết/bài cho các tác phẩm văn học hiện thực lớp 11, áp dụng trực tiếp vào quá trình soạn giảng hàng ngày.

Nhóm thứ hai là sinh viên và học viên cao học chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn. Công trình cung cấp phương pháp luận nghiên cứu thực tiễn bài bản, từ cách thiết kế phiếu điều tra trên mẫu 82 học sinh, 9 giáo viên đến phương pháp phân tích số liệu và triển khai thực nghiệm sư phạm trong trường phổ thông.

Nhóm thứ ba là cán bộ quản lý giáo dục và tổ trưởng chuyên môn tại các trường trung học. Tài liệu này đóng vai trò là cơ sở thực chứng để đánh giá chất lượng giờ dạy, xây dựng kế hoạch bồi dưỡng nghiệp vụ giáo viên và điều chỉnh hoạt động sinh hoạt chuyên môn theo định hướng đổi mới phương pháp.

Nhóm thứ tư là các nhà nghiên cứu chương trình và chuyên viên biên soạn sách giáo khoa. Các số liệu khảo sát thực tế về sự quá tải thời lượng và khoảng cách tiếp nhận của học sinh là nguồn dữ liệu tham chiếu quan trọng để cân đối dung lượng ngữ liệu và thời lượng phân phối bài học trong các chương trình giáo dục tiếp theo.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao có 82% học sinh thích học tác phẩm hiện thực nhưng tỷ lệ nhớ chính xác tên bài học chỉ đạt 15,9%? Nghịch lý này xuất phát từ việc học sinh chỉ tiếp nhận tác phẩm dưới dạng câu chuyện giải trí ly kỳ mà chưa được định hướng hệ thống hóa kiến thức văn học sử. Thiếu sót trong việc xâu chuỗi bài học theo tiến trình trào lưu 1930-1945 khiến các em nhớ nhân vật nhưng quên mạch kiến thức.

Làm thế nào để giáo viên giải quyết áp lực thời lượng chỉ 2 tiết cho bài học dài như Chí Phèo? Giải pháp tối ưu là chuyển giao nhiệm vụ đọc hiểu cơ bản về nhà thông qua khung hướng dẫn 7 bước. Trên lớp, giáo viên chỉ tập trung 10-15 phút đọc các trích đoạn then chốt như đoạn mở đầu hoặc đoạn gặp Thị Nở, thời gian còn lại dành cho phương pháp nêu vấn đề và giải quyết mâu thuẫn nhân vật.

Phương pháp đọc tác phẩm có vai trò quyết định ra sao trong giờ dạy văn học hiện thực 1930-1945? Phương pháp đọc là bước khởi đầu của quá trình tiếp nhận thẩm mỹ. Với hơn 88% giáo viên bỏ qua hoạt động này, học sinh mất đi cơ hội cảm nhận trực tiếp ngữ điệu trào phúng cay độc của Vũ Trọng Phụng hay lối tự sự lạnh lùng đầy trắc ẩn của Nam Cao, dẫn đến việc phân tích rập khuôn theo lời giảng.

Vì sao giáo viên cần chuyển từ câu hỏi phát vấn cảm tính sang hệ thống câu hỏi có thứ bậc? Khảo sát cho thấy 7/9 giáo viên dùng câu hỏi ngẫu hứng khiến giờ học phân tán. Thiết lập câu hỏi phân tầng từ nhận biết đến vận dụng cao giúp định hướng luồng tư duy logic, bảo đảm học sinh yếu vẫn theo kịp bài học còn học sinh khá giỏi được kích thích năng lực sáng tạo tối đa.

Phương pháp dạy học nêu vấn đề được ứng dụng cụ thể thế nào trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia? Giáo viên tạo tình huống có vấn đề ngay từ nhan đề nghịch lý: tại sao tang gia lại mang lại hạnh phúc? Bằng cách tổ chức cho học sinh tranh luận về động cơ của từng nhân vật như cụ cố Hồng hay ông Phán mọc sừng, học sinh tự khám phá bản chất đạo đức giả của xã hội thượng lưu đương thời.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn, gắn liền với đặc thù thi pháp trào phúng và tâm lý học của văn học hiện thực phê phán giai đoạn 1930-1945.
  • Khảo sát thực tế trên 82 học sinh và 9 giáo viên tại trường THPT Vân Tảo phản ánh chính xác các rào cản về phương pháp đàm thoại cảm tính và tình trạng thiếu hụt thời gian đọc văn bản trên lớp.
  • Đề xuất quy trình 4 nhóm giải pháp đột phá, trọng tâm là khung hướng dẫn tự học 7 bước tại nhà và hệ thống câu hỏi phân tầng theo cấp độ nhận thức.
  • Cung cấp mẫu giáo án thể nghiệm sư phạm có tính khả thi cao, giúp nâng cao hơn 25% tính chủ động và năng lực cảm thụ văn học của học sinh khối 11.
  • Định hướng nhân rộng mô hình thực nghiệm sư phạm đến 100% các trường THPT trong khu vực trong giai đoạn các năm học tiếp theo.

Các thầy cô giáo và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác khung phương pháp và hệ thống giáo án thực nghiệm của luận văn để áp dụng linh hoạt vào thực tiễn giảng dạy môn Ngữ văn tại đơn vị mình, góp phần nâng cao chất lượng dạy học theo chuẩn đổi mới giáo dục hiện nay.