Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC DẠY HỌC TẬP ĐỌC THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP 1. Cơ sở lí thuyết Những vấn đề chung về dạy học và dạy học tích hợp 1. Khái niệm tích hợp Tích hợp là một khái niệm rộng, không chỉ dùng trong lĩnh vực lí luận dạy học các bộ môn. Tích hợp (Intergration) có nguồn gốc từ tiếng Latinh Intergration với nghĩa: xác lập lại cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất trên cơ sở những bộ phận riêng lẻ.
Theo từ điển Anh – Anh: từ intergrate có nghĩa là kết hợp những phần, những bộ phận với nhau trong một tổng thể. Những phần, những bộ phận này có thể khác nhau nhưng thích hợp với nhau. Theo Từ điển Bách khoa Khoa học giáo dục Cộng hòa liên bang Đức, nghĩa chung của từ intergration có hai khía cạnh: - Quá trình xác lập lại cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất từ những cái riêng lẻ. - Trạng thái mà trong đó cái chung, cái toàn thể được tạo ra từ những cái riêng lẻ.
Tích hợp có nghĩa là sự hợp nhất, sự kết hợp, sự hòa nhập. Khái niệm tích hợp được sử dụng trong nhiều lĩnh vực. Trong kĩ thuật điện tử, tin học. theo Từ điển Điện tử và công nghệ thông tin, tích hợp là quá trình bó các phần tử mạch thành một chíp đơn.
Mạch tích hợp (ic) là các mạch liên thông được tổ hợp, liên kết lại với nhau. Trong lĩnh vực giáo dục, khái niệm tích hợp xuất hiện từ thời kì khai sáng (thế kỉ XVIII) dùng để chỉ một quan niệm giáo dục toàn diện con người, chống lại hiện tượng làm cho con người phát triển thiếu hài hòa, cân đối… Trong dạy học các bộ môn, tích hợp được hiểu là sự kết hợp, tổ hợp các nội dung từ các môn học, lĩnh vực học tập khác nhau thành một “môn học” 9 mới hoặc lồng ghép các nội dung cần thiết vào các nội dung vốn có của một môn học. Theo Từ điển tiếng Việt: Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động, chương trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng. Tích hợp có nghĩa là sự thống nhất, hòa hợp, kết hợp.
Theo từ điển Giáo dục học: ( Dạy học) tích hợp là sự liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch giảng dạy. Dạy học tích hợp Dạy học tích hợp được hiểu là định hướng dạy học trong đó giáo viên tổ chức, hướng dẫn sao cho học sinh biết huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng đã có thuộc các lĩnh vực khác nhau để giải quyết được nhiệm vụ học tập và qua đó mà hình thành kiến thức, kỹ năng mới. Chúng ta đều biết rằng, mục tiêu tối thượng của giáo dục nói chung và giáo dục phổ thông nói riêng là phát triển năng lực của con người. Biểu hiện của năng lực là kỹ năng giải quyết một tình huống có ý nghĩa, chứ không phải ở việc tiếp thụ một lượng tri thức rời rạc.
Chính vì có khả năng làm cho con người nhận thức được các sự vật, hiện tượng theo đúng mối quan hệ vốn có của chúng với thế giới xung quanh, nên dạy học tích hợp là một cách thức rất hữu hiệu để dạy học phát triển năng lực. Hà Thị Lan Hương (Viện NCSP-Trường ĐHSP Hà Nội) [2] Mục đích của dạy học tích hợp là để hình thành và phát triển năng lực học sinh, giúp học sinh vận dụng để giải quyết những vấn đề trong thực tiễn của cuộc sống. Bản chất của năng lực là khả năng của chủ thể kết hợp một cách linh hoạt, có tổ chức hợp lý các kiến thức, kỹ năng với thái độ, giá trị, động cơ, nhằm đáp ứng những yêu cầu phức hợp của một hoạt động, bảo đảm cho hoạt động đó đạt kết quả tốt đẹp trong một bối cảnh (tình huống) nhất định; và phương pháp tạo ra năng lực đó chính là dạy học tích hợp. Dạy học tích hợp có những đặc điểm sau đây: 10 - Thiết lập các mối quan hệ theo một logic nhất định những kiến thức, kỹ năng khác nhau để thực hiện một hoạt động phức hợp.
- Lựa chọn những thông tin, kiến thức, kỹ năng cần cho học sinh thực hiện được các hoạt động thiết thực trong các tình huống học tập, đời sống hàng ngày, làm cho học sinh hòa nhập vào thế giới cuộc sống. - Làm cho quá trình học tập mang tính mục đích rõ rệt. - Giáo viên không đặt ưu tiên truyền đạt kiến thức, thông tin đơn lẻ, mà phải hình thành ở học sinh năng lực tìm kiếm, quản lý, tổ chức sử dụng kiến thức để giải quyết vấn đề trong tình huống có ý nghĩa. - Khắc phục được thói quen truyền đạt và tiếp thu kiến thức, kỹ năng rời rạc làm cho con người trở nên"mù chữ chức năng", nghĩa là có thể được nhồi nhét nhiều thông tin, nhưng không dùng được.
Như vậy, dạy học tích hợp là cải cách giảm tải kiến thức không thực sự có giá trị sử dụng, để có điều kiện tăng tải kiến thức có ích. Để lựa chọn nội dung kiến thức đưa vào chương trình các môn học trước hết phải trả lời kiến thức nào cần và có thể làm cho học sinh biết huy động vào các tình huống có ý nghĩa. Biểu hiện của năng lực là biết sử dụng các nội dung và các kỹ năng trong một tình huống có ý nghĩa, chứ không ở tiếp thụ lượng tri thức rời rạc”. Như vậy dạy học tích hợp hướng tới việc tổ chức các hoạt động học tập, trong đó HS học cách sử dụng phối hợp các kiến thức và kĩ năng trong những tình huống có ý nghĩa gần với cuộc sống.
Trong quá trình học tập như vậy, các kiến thức của HS từ các môn học khác nhau được huy động và phối hợp với nhau, tạo thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ lí luận và thực tiễn được đề cập trong các môn học đó. Trong dạy học tích hợp, người học được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, họ phải trực tiếp quan sát, thảo luận, làm bài tập, giải quyết nhiệm vụ đặt ra theo cách nghĩ của mình, tự lực tìm kiếm nhằm khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp xếp. Người học cần phải tiếp nhận đối tượng qua các 11 phương tiện nghe, nhìn,.và phân tích đối tượng nhằm làm bộc lộ và phát hiện ra các mối quan hệ bản chất, tất yếu của sự vật, hiện tượng. Từ đó, người học vừa nắm được kiến thức vừa nắm được phương pháp thực hành.
Như vậy, người dạy không chỉ đơn thuần truyền đạt kiến thức mà còn hướng dẫn các thao tác thực hành. Ở bậc học phổ thông, dạy học tích hợp là góp phần thực hiện mục tiêụ giáo dục toàn diện của nhà trường, góp phần giảm tải học tập cho học sinh, là một trong những cách thức giúp học sinh nhận thức sự vật, hiện tượng khoa học theo đúng bản chất quan hệ của nó với các sự vật, hiện tượng khác. Dạy học tích hợp trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học Trong môn Tiếng Việt, tích hợp có thể theo chiều ngang và chiều dọc. Theo chiều ngang là tích hợp kiến thức tiếng Việt với các mảng kiến thức về Văn học, Thiên nhiên, Con người và Xã hội theo nguyên tắc đồng quy.
Ví dụ: SGK Tiếng Việt 3 thực hiện mục tiêu tích hợp nói trên thông qua hệ thống các chủ điểm học tập. Theo quan điểm tích hợp, các phân môn (Tập đọc, Chính tả, Kể chuyện, Tập viết, Luyện từ và câu, Tập làm văn) trước đây ít gắn bó với nhau, nay được tập hợp lại xung quanh trục chủ điểm và các bài đọc; các nhiệm vụ cung cấp kiến thức và rèn luyện kĩ năng cũng gắn bó với nhau chặt chẽ hơn trước. Tích hợp theo chiều dọc là tích hợp ở một số đơn vị kiến thức và kĩ năng mới với những kiến thức và kĩ năng đã học trước đó theo nguyên tắc đồng tâm (còn gọi là đồng trục hay vòng xoáy trôn ốc). Cụ thể là: kiến thức và kĩ năng của lớp trên, bậc học trên bao hàm kiến thức và kĩ năng của lớp dưới, bậc học dưới nhưng cao hơn và sâu hơn.
Ví dụ : Ở lớp 1, học sinh được học theo các chủ điểm tương đối rộng: Nhà trường, Gia đình, Thiên nhiên và Đất nước. Lên lớp 2, các chủ điểm được chia nhỏ hơn. Thí dụ: chủ điểm Nhà trường và Gia đình ở lớp 2 được chia thành 8 chủ điểm nhỏ: Em là học sinh, Bạn bè, Trường học, Thầy cô, Cha mẹ, Anh em, Ông bà, Bạn ở trong nhà. Lớp 3, ngoài các chủ điểm đã học ở lớp 1 và 2, học sinh được tiếp cận với các 12 chủ điểm mới mở rộng hơn như Quê hương, Cộng đồng, Bắc Trung Nam, Ngôi nhà chung, Khoa học, Thể thao, Lễ hội.Việc chia nhỏ các chủ điểm phù hợp với sự phát triển nhận thức của trẻ và giúp trẻ duy trì hứng thú học tập, loại trừ cảm giác nhàm chán dễ xảy ra khi học một chủ điểm trong một thời gian quá dài.Các chủ điểm là bộ khung cho cả cuốn sách giáo khoa.
Ở lớp 1, thời gian học dành cho mỗi đơn vị học là 1 tuần; các chủ điểm lần lượt trở đi trở lại theo kiểu đồng tâm xoáy ốc; mỗi lần trở lại là một lần khai thác sâu hơn. Từ lớp 2 trở lên, mỗi chủ điểm được dạy trong 2 tuần, vòng đồng tâm xoáy ốc thưa hơn. Phải sau một năm, học sinh mới trở lại với chủ điểm đã học. Dạy học Tiếng Việt theo quan điểm tích hợp nhằm thiết lập mối quan hệ giữa các khái niệm khác nhau đã học: giữa các khái niệm khác nhau của cùng một môn học cũng như các môn học khác nhau nhằm thích ứng với những thử thách lớn lao của thời đại ngày nay.
Với môn Tiếng Việt ở Tiểu học, mỗi phân môn học có những nhiệm vụ riêng và được dạy theo đặc trưng riêng của từng phân môn. Song để giúp HS có kiến thức tổng hợp để giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn, người ta đã quan tâm đến mối quan hệ giữa các khái niệm, kiến thức, kĩ năng của các phân môn học khác nhau. Đó chính là sự thể hiện của quan điểm tích hợp trong dạy học Tiếng Việt như hiện nay.