MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn để tài: Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, tin học đã xâm nhập vào tất cả các ngành nghề; hau như tất cả các công việc đều được xử lý trên máy vi tính với tốc độ nhanh như chớp, độ chính xác thật hoàn hảo. Trong bối cảnh chung đó, đại hội Đảng lẫn thứ IX đã thông qua nghị quyết đổi mới phương pháp day học bằng cách đưa tin học vào việc day học nhằm nang cao chất lượng dạy và học làm cho học sinh chủ động tiếp nhận kiến thức. Bản thân là giáo viên tương lai nên em cin trang bị cho mình thật vững chắc cả kiến thức chuyên môn lẫn kiến thức tin học và các ứng dụng của nó để em có thể nâng cao kiến thức và phẩn nào giúp được học sinh của mình trong việc học tập.
Mặc dd hình thức kiểm tra trấc nghiệm khách quan không mới đối với học sinh nhưng áp dụng vào bộ môn hoá thì chưa phổ biến Ở các trường phổ thông và đặc biệt là kiểm tra trắc nghiệm trên máy vi tính. Do đó nhằm giúp cho học sinh có cơ hội làm quen với hình thức kiểm tra này và cũng để trang bị cho các em ở các kì thi trong tương lai nên em đã chọn để tài này. Lịch sử vấn dé : Ở một số nước trên thế giới, việc kiểm tra và đánh giá học sinh ~ sinh viên bằng hình thức kiểm tra trắc nghiệm khách quan trên máy tính là một điểu phổ biến, điển hình là các kì thi tiếng Anh như thi TOEFL, IELTS. Tuy nhiên ở Việt Nam đây là một vấn để tương đối mới mẻ.
Mặc dù các chuyên viên tin học của nước ta và Đại Học Quốc Gia Tp. HCM cũng đã xây dựng được nhiều chương trình trắc nghiệm trên máy tính nhưng nó vẫn chưa được sử dụng phổ biến ở các trường phổ thông do nhiều nguyên nhân; mà một trong những nguyên nhân đó là nội dung chưa phù hợp và các chương trình này còn khó sử dụng đối với giáo viên phổ thông. Do đó, vấn để đặt ra là phải làm sau xây dựng được chương trình trắc nghiệm phù hợp với khả nang ứng dụng của giáo viên và học sinh mang những đặc điểm sau : ~ Chương trình dùng lối thiết kế đơn giản mà giáo viên phổ thông với chút ít kiến thức về lập trình cũng có thể sử dụng và làm được. Y Giáo viên có thể ra để sát với trình độ học sinh.
Giáo viên có thể thay đổi dé kiểm tra một cách linh hoạt. Y Học sinh có thể tự học và tự kiểm tra kiến thức của mình. nghiên Mục đích cứu : Thiết lập hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan ở chương oxi và lưu huỳnh trên máy vi tính để giúp giáo viên nâng cao chất lượng dạy học và kiểm tra kiến thức học sinh và giúp học sinh tự học và tự kiểm tra kiến thức. ng Nhiệm vụ hiên cứu : Cơ sở lý thuyết trắc nghiệm.
+*©ˆ Cơ sở lý thuyết chương oxi và lưu huỳnh. Ngôn ngữ lập trình máy tính — Visual Basic 6. Điều tra tình hình thực tế. “Thực nghiệm sư phạm.
Xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm, lên biểu mẫu thống kê. Đối tượng và khách thể nghiên cứu : ® Đối tương : Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan và đưa vào máy vi tính bằng ngôn ngữ lập trình Visual Basic , và các bài lên lớp hoá học. ® Khác thể : Quá h trình dạy học hoá học ở trường phổ thông. Giả thuyết khoa học : Nếu chương trình này thực hiện thành công thì sẽ nâng cao được chất lượng dạy và học hóa học ở trường phổ thông.
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu : ® Phươ pháp ng luân : Dựa trên nên tang triết học duy vật biện chứng vé quá trình day và học của giáo viên và học sinh. ® Phương pháp nghiên cứu : — Tìm đọc, nghiên cứu, tổng hợp và phân tích các tài liệu có liên quan đến để tài. — Thực nghiệm sư phạm. — Xử lý số liệu và diéu tra thống kê.
Giới hạn của để tài ; _ Em đã xây dựng nguyên tắc chung của chương trình trắc nghiệm trên máy vi tính bằng ngôn ngữ lập trình Visual Basic để dùng cho việc thiết kế trắc nghiệm khách quan trên máy vi tính cho bài 15 phút , I tiết , thi học kì cho bất kì chương nào của chương trình hóa THPT và THCS. _ Vì thời gian TTSP có 6 tuần nên em chỉ xây dưng nguyên tắc chung của chương trình trắc nghiệm trên máy vi tính và tập trung vào bài kiểm tra 15 phút chương oxi — lưu huỳnh. 1 CHƯƠNG CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT TRAC NGHIỆM |10] 1.1 CÁC LOẠI CÂU HOI TRAC NGHIỆM KHÁCH QUAN : 1.1 Câu hỏi có nhiều lựa chọn: Câu hỏi thuộc loại nhiều lựa chọn gồm có hai phan : phan “gốc” và phần “lựa chọn”. Phần gốc là một câu hỏi hay một câu bỏ lửng (chưa hoàn tất).
Phân lựa chọn gồm một số (thường là 4 hay 5) câu trả lời hay câu bổ túc để cho học sinh lựa chọn. Phin gốc, dù là câu hỏi hay câu bỏ lửng, phải tạo căn bản cho sự lựa chọn bằng cách đặt ra một vấn để hay đưa ra một ý tưởng rõ ràng giúp cho người làm bài có thể hiểu rõ câu trắc nghiệm ấy muốn hỏi diéu gì để lựa chọn câu trả lời thích hợp. Phin lựa chọn gồm có nhiều lối giải đáp có thể lựa chọn trong số đó có một lựa chọn được dự định cho là đúng hay đúng nhất, còn những phẩn còn lại là những “mỗi nhử"”. Diéu quan trọng là làm sao cho những mỗi nhử ấy déu hấp dẫn ngang nhau đối với những học sinh chưa học kỹ hay chưa hiểu kỹ bài học .2 Céu hỏighép đôi( câu trắc nghiệm đối chiếu cặp đôi ) : Là một dạng đặc biệt của loại trắc nghiệm khách quan có nhiều lựa chọn.
Học sinh phải chọn, trong còng một tập hợp các lựa chọn, câu nào hay từ nào phù hợp nhất với câu trắc nghiệm đã cho .13 sei - Câu hỏi dũng Là một dạng đặc biệt của trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn ở chỗ chỉ có 2 cách lựa chọn. Loại này được trình bày đưới dạng một câu phát biểu, học sinh phải trả lời bằng cách lựa chọn đúng hay sai.4 Câu điền khuyết ( hoặc điển vào chỗ trống cho câu ) : Là loại câu hỏi trắc nghiệm đòi hỏi phải điển hay liệt kê ra một hay hai từ vào chỗ đã để trống cho trả lời. Do những bất tiện khi chấm bài (không thể sử dụng máy chấm) và sự chấm điểm không phải bao giờ cũng hoàn toàn khách quan, cho nên loại câu điển khuyết chỉ nên dùng trong những trường hợp sau : Khi câu trả lời rất ngắn và ý nghĩa đúng sai là rất rõ rệt. Khi ta không tìm được đủ số câu nhiễu làm mỗi nhử.2 CÁC CHỈ SỐ ĐỂ ĐÁNH GIÁ MỘT CÂU HOI HAY MỘT BÀI TRAC NGHIỆM: [10 tr.121-139 Có nhiều chỉ số để đánh giá một câu hỏi hay một bài trắc nghiệm như độ khó, độ phân biệt, độ giá trị, độ tin cậy.
Thông thường, người giáo viên quan tâm trước tiên đến độ khó và độ phân biệt Tổng số học sinh làm được câu hỏi đó Độ khó = ——_ EEE Tổng số học sinh không làm được Có thể thay đổi đôi chút công thức trên Tổng số học sinh làm được câu hỏi đó Độ khó = ( ——————— x 100) % Tổng số học sinh tham gia kiểm tra Ta thấy ngay giá trị thấp nhất của chỉ số khó là 0% và cao nhất là 100%, Độ khó có giá trị càng lớn thì câu hỏi kiểm tra càng dễ. Không nên chọn câu hỏi quá dễ hoặc quá khó. Thông thường nên chọn câu hỏi có độ khó trong khoảng lớn hơn 30% đến nhỏ hơn 70% Độ phân biệt : (H-L) H : Số học sinh trả lời đúng xét trong Độ phân biệt = —— 71.5%học sinh có điểm cao nhất 0,275 N L : Số hoc sinh trả lời đúng xét trong số 21,5 % học sinh có điểm thấp nhất N: Tổng số học sinh dự kiểm tra Độ phân biệt cho biết khả năng giải quyết cùng một câu hỏi kiểm tra giữa nhóm học sinh làm tốt với nhóm học sinh làm kém. Một câu hỏi được biên soạn tốt sẽ có nhiều học sinh giỏi làm được hơn là số học sinh kém.
Do vậy, độ phân biệt cũng cho biết khả năng của một câu hỏi phân tách được trình độ học sinh. Nếu tất cả học sinh giỏi đều trả lời đúng, còn tất cả học sinh kém đều trả lời sai thì độ phân biệt có giá trị cao nhất. Nếu kết quả ngược lại thì câu hỏi cẩn được xem xét lại. Thông thường đối với bài có từ 20 đến 50 câu hỏi thì độ phân biệt từ 0,3 đến 0,5 là có thể ding một cách tin tưởng.
Câu hỏi có độ phân biệt đưới 0,2 thì nên bên soạn lại.3 QUY TRÌNH XÂY DUNG MOT BAI TRAC NGHIỆM KHÁCH QUAN TIÊU CHUẨN HÓA : Xây dựng bảng đặc trưng hai chiểu của môn học : Đó là thiết lập một dàn bài trắc nghiệm trong đó xác định rõ những trọng tâm kiến thức cin kiểm tra, số lượng câu kiểm tra cho từng phẩn, tỷ lệ câu hỏi ứng với bốn trình độ học sinh. Cá nhân viết câu hỏi. Trao đổi trong nhóm. Duyệt lại câu hỏi.
Làm để trắc nghiệm thử. Trắc nghiệm thử. Phân tích kết quả trắc nghiệm thử. Chỉnh lý các câu hỏi để đưa vào ngân hàng.
Lập để thi từ ngân hàng. Tổ chức thi. Chấm thi và phân tích kết quả. Phối hợp phương pháp tric nghiệm khách quan và những phương pháp kiểm tra truyền thống sẽ góp phần nâng cao chất lượng day học .2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHUYÊN NGANH [9] 1.1 CÁC NGUYÊN TO PHAN NHÓM CHÍNH NHÓM VI Phân nhóm chính nhóm VI gồm các nguyên tố : oxi (O), lưu huỳnh (S), selen (Se), telu (Te) và poloni (Po).
Chúng có tên là Cancogen (theo tiếng Hy Lạp có nghĩa là chất có khả năng sinh ra quặng) vì phan lớn các quặng đều là quặng oxit hoặc quặng sunfua được tạo ra từ phản ứng trực tiếp của các nguyên tố họ này với kim loại. Quang trọng nhất vé mặt lý thuyết cũng như vé mặt ứng dụng là oxi và lưu huỳnh, poloni là nguyên tố hiếm và phóng xạ. Nguyên tử của các nguyên tố nhóm VIA có 6 electron trên lớp vỏ ngoài cùng với cấu hình electron ns*np* do đó : > Chúng có thể thu thêm 2 electron để cho X* khi tác dung với các kim loại mạnh. Những hợp chất này khá bền vững.