đặt vấn đề nhằm tập trung sự chú ý của học sinh vào khái niệm mới nảy sinh do nhu cầu nội tại toán học hoặc nhu cầu thực tiễn. + Hoạt động 2: Ôn tập một số khái niệm có liên quan, tổ chức các hoạt động trên phương tiện trực quanhỗ trợ việc làm quen, nhận thức khái niệm mới. + Hoạt động 3: Trừu tượng hóa và khái quát hóa đối tượng trực gian, chính xác hóa khái niệm mới; tên gọi; kí hiệu; thuật ngữ. + Hoạt động 4: Củng cố khái niệm và phân biệt với khái niệm đã biết, cho ví dụ nhận dạng và thể hiện khái niệm toán học vừa hình thành [13] Nguyễn Mạnh Tuấn (2013) quan tâm đến đổi mới nội dung, phương pháp dạy các yếu tố hình học cho học sinh Tiểu học, đó là quá trình bao gồm: tri giác không gian, tiếp theo là thực hiện các hoạt động trí tuệ như so sánh, phân tích, tổng hợp.
Các yếu tố hình học được hình thành ở học sinh tiểu học không bắt đầu bằng việc xây dựng theo con đường diễn dịch những khái niệm và định lý, nó được bắt đầu khi học sinh tiểu học định hướng bản thân trong môi trường xung quanh hằng ngày, làm quen và có nhu cầu phản ánh những đối tượng và quan hệ không gian cụ thể trong đời sống của chúng, cuối cùng mới mở đường dẫn đến sự phát triển khái niệm và định lý [22] Điểm qua một số nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước để thấy Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn rằng: Việc hình thành biểu tượng toán học cho học sinh tiểu học, trong đó có các biểu tượng hình học có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo ra nền tảng kiến thức vững chắc, hình thành cho học sinh cơ sở để học tập môn Toán ở các lớp trên, đồng thời giúp các em vận dụng những kiến thức, kĩ năng được học vào thực tiễn cuộc sống. Tuy nhiên, chúng tôi muốn tập trung nghiên cứu sâu hơn về các con đường và biện pháp dạy học hình thành biểu tượng hình học cho học sinh cá lớp đầu cấp tiểu học. Điều này đã được một số tác giả quan tâm nhưng chưa thật sâu sắc. Một số quan niệm công cụ 1.
Biểu tượng Theo các nhà nghiên cứu thì: Toán học là môn khoa học nghiên cứu về các số, cấu trúc, không gian và các phép biến đổi. Nói một cách khác, người ta cho rằng đó là môn học về “hình và số." Theo quan điểm chính thống, nó là môn học nghiên cứu về các cấu trúc trừu tượng định nghĩa từ các tiên đề, bằng cách sử dụng luận lí học (lôgic) và kí hiệu toán học. Các quan điểm khác của nó được miêu tả trong triết học toán. Do khả năng ứng dụng rộng rãi trong nhiều khoa học, toán học được mệnh danh là “ngôn ngữ của vũ trụ".
“Biểu tượng là một hình ảnh, ký tự hay bất cứ cái gì đó đại diện cho một ý tưởng, thực thể vật chất hoặc một quá trình” [1]. Mục đích của một biểu tượng là để truyền thông điệp ý nghĩa một cách nhanh chóng dễ dàng và ngắn gọn, đơn giản. Biểu tượng hình học Chúng tôi cho rằng: Biểu tượng hình học là những hình ảnh về kiến thức toán học cụ thể được mô phỏng, khái quát lại cho phù hợp với khả năng tư duy của con người ở từng độ tuổi nhất định. Nó giúp cho con người có thể tiếp thu kiến thức tốt hơn khi năng lực tư duy logic chưa phát triển hoàn thiện.
Ở tiểu học các biểu tượng toán học chủ yếu là các biểu tượng về tổ hợp, về số lượng, con số, và phép đếm, biểu tượng về kích thước, biểu tượng về độ dài đoạn thẳng, biểu tượng về phân số, về số thập phân, về khối lượng, về diện tích, về đại lượng, biểu tượng về hình hình học…thường được biểu hiện dưới Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn việc quan sát đồ vật hiện tượng bên ngoài, tri giác cho ta một hình ảnh về đồ vật, hiện tượng. Có thể quan niệm “ Hình ảnh” đó là “ Biểu tượng tượng hình” là hình ảnh trong óc ( khi đồ vật, hiện tượng không còn ở trước mắt) nó tương tự như tri giác nhưng không phải là một kết quả trực tiếp. Bức tranh ý niệm là cái gì đó không thể hiện bằng lời được kết hợp trong đầu óc với khái niệm có thể là biểu diễn trực quan, hoặc là tập hợp các ấn tượng hay kinh nghiệm. Khi nghe nói “hình chữ nhật” trong đầu chúng ta khơi gợi lên bức tranh hình chữ nhật với những kinh nghiệm liên quan dưới tác động của các chức năng kí hiệu của hoạt động tư duy, các “ hình ảnh tinh thần” được hoàn thiện thành biểu tượng.
Việc chuyển từ biểu tượng sang khái niệm được thực hiện nhờ một hoạt động kết cấu, hoạt động kết cấu này cung cấp thêm những thông tin không có tính chất tri giác để tạo ra sự vật hiện tượng. Ở tiểu học hình thành biểu tượng toán học là việc xác định biểu tượng qua mô tả hay biểu diễn trực quan, hoặc đối chiếu so sánh với các biểu tượng đã có. Không dùng định nghĩa theo quan niệm của lôgíc hình thức, định nghĩa theo chủng và sự khác biệt về loại trong việc hình thành biểu tượng toán học cho học sinh tiểu học. Bước vào cấp tiểu học, học sinh chuyển dần hoạt động chủ đạo từ “chơi” sang “học” và bắt đầu được làm quen với những con số, những phép toán.
Có những kiến thức đối với các em hoàn toàn là những biểu tượng và rất mơ hồ. Lại có những kiến thức khiến cho học sinh ở lứa tuổi này lúng túng trong tiếp thu. Bởi vậy người giáo viên tiểu học cùng với sự linh động của mình đã xây dựng nên những biểu tượng toán học đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh. Ngay từ lớp Một các em đã được làm quen với những biểu tượng toán học về các con số.
Dãy số tự nhiên với các em như một người bạn mới, học sinh có thể nhận biết rất nhanh nhưng rồi lại rất mau quên. Bởi vậy cần có những biểu tượng toán học về tập hợp số để khi nhắc đến bất kì một con số nào thì trong đầu các em nghĩ ngay đến biểu tượng toán học đó và từ đó vận dụng vào thực tế. Sau khi đã có được hiểu biết cơ bản về các số tự nhiên thì cũng ở lớp một Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn các em tiếp tục được làm quen với phép cộng trong phạm vi 100 (không nhớ). Đối với phép cộng các em lại được hình thành một biểu tượng toán học mới trên cơ sở biểu tượng về tập hợp số ban đầu.
Vì đã được làm quen với biểu tượng về tập hợp số nên việc tính toán với phép cộng cũng trở nên đơn giản hơn rất nhiều. Lên lớp Hai học sinh được học thêm một phép tính mới, phép nhân. Với phép toán này các em lại được thầy cô giới thiệu một biểu tượng toán học mới được phát triển trên cơ sở biểu tượng toán học về phép cộng. Bởi vì phép nhân là lấy tổng các số hạng bằng nhau nên với biểu tượng về phép cộng đã được học từ lớp Một học sinh có thể tiếp thu rất nhanh về phép toán mới này.
Song song với bảng tính nhân thì học sinh lại được làm quen với phép chia. Phép nhân và phép chia có mối quan hệ mật thiết với nhau, từ một phép nhân với ý nghĩa tổng của các số hạng bằng nhau, ta có thể lập được hai phép chia với ý nghĩa là chia thành các phần bằng nhau hoặc chia theo nhóm. Hiểu biết về ý nghĩa của mỗi phép tính là là mấu chốt quan trọng giúp các thầy cô giáo xây dựng các hoạt động hình thành biểu tượng toán học về phép chia để cung cấp cho học sinh. Đến lớp Ba học sinh biết vẽ hình tròn bằng compa, biết kiểm tra góc vuông bằng êke, biết vẽ trang trí hình tròn đơn giản và biết gấp hình.
Biết tính chu vi và diện tích hình chữ nhật, hình vuông. Điểm ở giữa, trung điểm của đoan thẳng. Giới thiệu đỉnh, góc, cạnh của hình đã học. Học sinh tích cực, hứng thú học tập trên cơ sở phát triển các năng lực trí tuệ, đặc biệt là phát triển trí tưởng tượng không gian ( thông qua các bài toán vẽ hình, vẽ trang trí hình tròn và xếp ghép, phân tích, tổng hợp) Nhưng phép chia một số tự nhiên cho một số tự nhiên (khác 0) không phải bao giờ cũng cho ra kết quả là một số tự nhiên.
Lên lớp Bốn học sinh được làm quen với một khái niệm mới: phân số. Với bài học về phân số học sinh lại được hình thành thêm một biểu tượng mới, biểu tượng toán học về phân số, nó giúp các em giải quyết được một số khúc mắc thường gặp trong cuộc sống, ví dụ như việc chia một cái bánh cho ba người vậy. Nội dung này các em sẽ được tiếp cận trong chương trình môn Toán lớp Bốn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Như vậy biểu tượng toán học hiện hữu trong mỗi bài học, mỗi kiến thức mới của học sinh đầu cấp tiểu học.
Nó trở thành công cụ hữu hiệu để các thầy cô giáo có thể truyền đạt được hết nội dung bài học cho học sinh nắm bắt. Những biểu tượng toán học vừa giới thiệu ở trên chỉ là một trong số ít những biểu tượng được sử dụng phổ biến trong công tác dạy - học ở tiểu học. Học sinh đầu cấp tiểu học Học sinh tiểu học là lứa tuổi từ 6 đến 10 - 11 tuổi. Các em có những đặc trưng sau đây: học sinh tiểu học là thực thể hồn nhiên tiềm tàng khả năng phát triển (khả năng hiện thực và khả năng tiềm ẩn); đây là lứa tuổi mà nhân cách đang hình thành; hoạt động chủ đạo của học sinh tiểu học là hoạt động học; học sinh tiểu học là phạm trù tương lai.
Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học Trong công tác giáo dục thì người giáo viên phải chú ý đến đặc điểm lứa tuổi học sinh.Và đối với lứa Tuổi tiểu học các em vừa qua trường mầm non bước sang bậc Tiểu học mọi sự vật bên ngoài của các em còn nhiều bỡ ngỡ, có những điều mới lạ. Bậc học Tiểu học các giờ học nhiều hơn, kiến thức được nâng cao hơn, hoạt động vui chơi không phát triển xuống hàng thứ yếu sau hoạt động học tập. Điều đó ảnh hưởng đến hệ thần kinh các em.