Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1. Trên thế giới Đã có một số công trình nghiên cứu hoặc tài liệu được biên soạn về năng lực hợp tác và giải quyết vấn đề như + Assessment and Teaching of 21st Century Skills (Friedrich Hesse, Esther Care, Juergen Buder, Kai Sassenberg, Patrick Griffin, 2017) của tác giả Friedrich Hesse.
+ Tài liệu PISA 2015 Collaborative problem – solving framework (OECD, 2017). Crane (2015), Project-based learning in the secondary chemistry classroom., Gail Dickinson, Emily Summers, Eleanor Close (2015),The effects of project-based science on students’ attitudes and understanding of high school chemistry. + Mona Charif (2010), The effects of problem based learning in chemistry education on middle school students’ academic achievement and attitude. Các tác giả đã khảo sát việc ứng dụng phương pháp DHTDA trong dạy học của nhiều GV.
Kết quả cho thấy phương pháp dạy học theo dự án phù hợp để tổ chức các hoạt động nhóm cho HS, tạo điều kiện thuận lợi để GV có thể ứng dụng CNTT trong dạy học. Đặc biệt phương pháp dạy học theo dự án được khẳng định là đem lại hiệu quả trong việc tạo động cơ học tập và phát triển năng lực hợp tác cho HS. Ở Việt Nam Phát triển năng lực hợp tác giải quyết vấn đề là một chủ đề còn mới ở nước ta, dó đó số lượng đề tài nghiên cứu về chủ đề này chưa nhiều. Một số đề tài đã nghiên cứu gần đây như: + Nguyễn Hùng Vương (2018), “Vận dụng phương pháp Webquest trong dạy học tích hợp phần hóa học hữu cơ lớp 11 nhằm phát triển năng lực hợp tác giải quyết vấn đề cho học sinh”, luận văn thạc sĩ, trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh.
Luan van 5 + Trần Thị Cúc (2017), “Phát triển năng lực hợp tác giải quyết vấn đề cho học sinh thông qua dạy học phần phi kim – hóa học 10 nâng cao”, luận văn thạc sĩ, trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Bên cạnh đó, ở nước ta còn có một số công trình nghiên cứu về phương pháp dạy học theo dự án, có thể kể đến như là: + Nguyễn Thị Lan Phương (2012), “Vận dụng dạy học theo dự án trong dạy học hóa học 11 trường trung học phổ thông”, luận văn thạc sĩ, trường Đại học Sư phạm Tp.Hồ Chí Minh. + Nguyễn Thị Thanh Mai (2011), “Áp dụng dạy học theo dự án trong dạy học hóa học ở trường trung học phổ thông”, luận văn thạc sĩ, trường Đại học Sư phạm Tp.Hồ Chí Minh. + Tạ Thị Thủy (2015), “Phát triển năng lực nghiên cứu cho học sinh bằng dạy học theo dự án trong dạy học sinh học 10, trung học phổ thông”, Luận văn thạc sĩ, trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
+ Phạm Ngọc Thùy Dung (2012), “Sử dụng phương pháp dạy học theo dự án trong dạy học phần hóa vô cơ trung học phổ thông”, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, trường Đại học Sư phạm Tp.Hồ Chí Minh. + Vũ Thị Hoa (2016), “Vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học chương III cacbon – silic (Hóa học lớp 11) theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh trung học phổ thông”, Luận văn thạc sĩ, trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội. + Đặng Thị Minh Thu (2009), “Phát triển năng lực chủ động tích cực học tập của học sinh trong dạy học hóa học thông qua hình thức dạy học dự án”, Luận văn thạc sĩ, trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Một số bài báo khoa học về PPDH dự án và năng lực hợp tác giải quyết vấn đề: + Lê Thái Hưng, Lê Thị Hoàng Hà, Dương Thị Anh (2016), Năng lực hợp tác giải quyết vấn đề trong dạy học và đánh giá bậc trung học ở Việt Nam, Tạp chí Quản lý giáo dục, 80, tr.
+ Phan Đồng Châu Thủy (2014), “Dạy học dự án có tích hợp giáo dục môi trường trong môn học “Phương pháp dạy học hóa học phổ thông”, Tạp chí Khoa Luan van 6 học Và Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Huế, ISSN 1859-1612, tr. + Trần Trung Ninh, Bùi Thị Hạnh (2008), “Áp dụng dạy học dự án trong việc dạy học phần hoá hữu cơ ở trường Cao đẳng Thuỷ sản”, Tạp chí Hoá học và Ứng dụng, số 12 84, ISSN 0886 - 7004, tr. Đặc biệt nhiều công trình nghiên cứu nào về vận dụng phương pháp dạy học theo dự án nhằm phát triển năng lực hợp tác giải quyết vấn đề cho HS THPT trong dạy học tích hợp. Điều này đã củng cố sự cần thiết của việc tiến hành nghiên cứu đề tài của chúng tôi.
Dạy học theo dự án 1. Khái niệm và phân loại 1. Khái niệm Thuật ngữ dự án, tiếng Anh là “project” được hiểu là một đề án, một kế hoạch cần được thực hiện nhằm đạt được mục đích đề ra. Khái niệm dự án được sử dụng rộng rãi trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế - xã hội và trong nghiên cứu khoa học.
Đầu thế kỉ 20 các nhà sư phạm Mỹ đã xây dựng cơ sở lý luận cho phương pháp dự án và coi đó là đó là PPDH quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học lấy HS làm trung tâm, khắc phục nhược điểm của phương pháp cũ. Có nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau về DHTDA, tuy nhiên các định nghĩa đều có chung sự thống nhất. Từ đó ta có thể định nghĩa dạy học theo dự án như sau: “Dạy học theo dự án là một hình thức (phương pháp) dạy học, trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lí thuyết và thực tiễn, thực hành, tạo ra các sản phẩm có thể giới thiệu. Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch, đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện.” Trong quá trình thực hiện dự án, GV có thể vận dụng nhiều cách đánh giá khác nhau để giúp HS có định hướng tốt trong học tập, tạo ra những sản phẩm chất lượng và hình thành, phát triển năng lực.
Phân loại Dạy học theo dự áncó thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau. Một số cách để phân loại DHTDA như sau (Trần Trung Ninh et al. Phân loại theo chuyên môn - Trong một môn học: trọng tâm nội dung nằm trong một môn học. - Liên môn: trọng tâm nội dung nằm ở nhiều môn học khác nhau.
Phân loại theo thời gian - Dự án nhỏ: thực hiện trong một số giờ học, từ 2 – 6 giờ học. - Dự án trung bình: thực hiện trong một số ngàu, thường là khoảng 1 tuần hoặc 40 giờ học. - Dự án lớn: thực hiện với khoảng thời gian lớn, nhiều hơn 1 tuần (hoặc 40 giờ), có thể kéo dài vài tuần cho đến cả năm học. Phân loại theo nhiệm vụ - Dự án tìm hiểu: dự án khảo sát thực trạng đối tượng.
- Dự án nghiên cứu: giải quyết các vấn đề, giải thích các hiện tượng, sự việc. - Dự án thực hành: tạo ra các sản phẩm hoặc thực hiện một nhiệm vụ, kế hoạch thực tiễn nào đó. - Dự án hỗn hợp: kết hợp các dự án có nội dung kể trên. Đặc điểm của dạy học theo dự án - Định hướng thực tiễn: chủ đề của dự án xuất phát từ những tình huống thực tiễn xã hội, thực tiễn nghề nghiệp cũng như thực tiễn đời sống.
Nhiệm vụ của dự án cần chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình độ và khả năng nhận thức của người học. Các dự án học tập có ý nghĩa thực tiễn xã hội, góp phần gắn việc học tập trong nhà trường với thực tiễn đời sống, xã hội. Trong những trường hợp lí tưởng, việc thực hiện các dự án có thể mang lại những tác động xã hội tích cực. - Định hướng hứng thú người học: HS được tham gia chọn đề tài, nội dung học tập phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân.
Ngoài ra, hứng thú của người học cần được tiếp tục phát triển trong quá trình thực hiện dự án. Luan van 8 - Mang tính phức hợp, liên môn: nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực hoặc nhiều môn học khác nhau nhằm giải quyết một nhiệm vụ, vấn đề mang tính phức hợp. - Định hướng hành động: trong quá trình thực hiện dự án có sự kết hợp giữa nghiên cứu lí thuyết và vận dụng lí thuyết vào trong hoạt động thực tiễn, thực hành. Thông qua đó, kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết lí thuyết cũng như rèn luyện kĩ năng hành động, kinh nghiệm thực tiễn của người học.
- Tính tự lực của người học: trong dạy học theo dự án, người học cần tham gia tích cực, tự lực vào các giai đoạn của quá trình dạy học. Điều đó cũng đòi hỏi và khuyến khích tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học. GV chủ yếu đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ. Tuy nhiên, mức độ tự lực cần phù hợp với kinh nghiệm, khả năng của HS và mức độ khó khăn của nhiệm vụ.
- Cộng tác làm việc: các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm, trong đó có sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viên trong nhóm. Dạy học theo dự án đòi hỏi và rèn luyện tính sẵn sàng và kĩ năng cộng tác làm việc giữa các thành viên tham gia, giữa HS và GV cũng như với các lực lượng xã hội khác tham gia trong dự án. Đặc điểm này còn được gọi là học tập mang tính xã hội. - Định hướng sản phẩm: trong quá trình thực hiện dự án, các sản phẩm được tạo ra không chỉ giới hạn trong những thu hoạch lí thuyết, mà trong đa số trường hợp các dự án học tập tạo ra những sản phẩm vật chất của hoạt động thực tiễn, thực hành.
Những sản phẩm này có thể sử dụng, công bố, giới thiệu. Luan van 9 Định hướng thực Định Định tiễn hướng hướng hướng sản thú phẩm người học Đặc điểm của Mang Cộng DHTDA tính tác làm phức việc hợp, liên môn Tính Định tự lực hướng của hành người động học Hình 1. Sơ đồ đặc điểm của dạy học theo dự án Ngoài các đặc điểm trên, khi tiến hành dạy học theo dự án cần chú ý: - Các dự án học tập cần góp phần gắn việc học tập trong nhà trường với thực tiễn đời sống, xã hội; có sự kết hợp giữa nghiên cứu lí thuyết và vận dụng lí thuyết vào hoạt động thực tiến, thực hành - Nhiệm vụ dự án cần chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình độ và khả năng của HS.