Chương I của cuốn sách “Lý thuyết và thực hành học tập tương tác” trình bày về các khái niệm như tương tác, học tập tương tác, bản chất của mô hình học tập tương tác, điều kiện để triển khai hiệu quả mô hình, các kỹ năng và thói quen cần thiết của người giáo viên, và những lưu ý quan trọng khác cho việc 7 thực hành. Chương này cũng nhấn mạnh lý thuyết của một bài học tương tác, mô tả các thành phần và phương pháp luận của nó. Một phần quan trọng và hoàn toàn mới là phần lựa chọn phương pháp học tập, đưa ra quy trình để giáo viên lựa chọn một phương pháp và kỹ thuật học tập tương tác. Cuốn sách đã phân loại và hệ thống hóa các phương pháp và kỹ thuật học tập tương tác được sử dụng trong quá trình dạy học, cũng như những kỹ thuật và chiến lược để tạo môi trường học tập tích cực và tổ chức giao tiếp giữa người học với nhau.
Để giúp học sinh nhanh chóng thích ứng và sớm góp phần phát triển đời sống xã hội, người ta thấy chăm lo phát triển tiềm năng của mỗi cá nhân cũng chưa đủ mà còn phải tổ chức cho học sinh hoạt động trong môi trường tập thể trên cơ sở tôn trọng tính cách của mỗi cá nhân. Các công trình nghiên cứu của nhiều nhà sư phạm khác về dạy học tương tác cũng được phát triển rộng rãi trong các trường học, nhiều kết quả nghiên cứu đã đăng trên các tạp chí có chất lượng cao trên thế giới đề cập đến việc sử dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học tương tác, như các bài báo: “Interactive teaching and learning” [81] (Dạy và học tương tác) by Chandralekha Singh; “What IS Interactive Teaching”? (Dạy học tương tác là gì?) của Tiến sĩ Louis Abrahamson [89]. Tác giả cho rằng điều đầu tiên để nhận ra về giảng dạy tương tác nó là một cái gì đó không mới hoặc bí ẩn. Nếu bạn là một giáo viên và bạn đặt câu hỏi trong lớp học, giao bài tập về nhà và kiểm tra, hoặc giữ cho các nhóm thảo luận đó là bạn đã dạy tương tác.
Về cơ bản, giảng dạy tương tác chỉ được đem lại cho HS một cái gì đó để làm, lấy lại những gì họ đã làm và sau đó đồng hoá nó cho mình, do đó bạn có thể quyết định những gì sẽ là tốt nhất để làm tiếp theo. Tác giả cũng chỉ ra 3 lí do dẫn đến thành công của giảng dạy tương tác: Đó là một nỗ lực để xem những gì thực sự tồn tại trong não bộ của HS. Đây là một khía cạnh “tổng kết”. Đó là khía cạnh dễ hiểu nhất và nó cũng được mô tả trong các tài liệu.
Lý do thứ hai là “hình thành”, nơi mà các giáo viên nhằm mục đích thông qua các nhiệm vụ được giao để chỉ đạo xử lí tinh thần của HS cùng một con đường trong khái niệm “không gian”. Mục đích là HS suy nghĩ về những vấn đề cần thiết khi đi dọc con đường, xây dựng kết quả tinh thần đó được phát triển trong đầu HS sẽ có những đặc tính mà các GV cố gắng để dạy. Như Socrates phát hiện ra một câu hỏi hay có thể thực hiện tốt hơn so với kết quả này, chỉ nói được câu trả lời. Lý do thứ ba có thể được gọi là “động lực”.
Học tập là công việc khó khăn, và 8 tạo một động lực đúng lúc có thể làm cho tất cả các sự khác biệt. Một yếu tố thúc đẩy cung cấp bởi các giáo viên tương tác là một yêu cầu của một phản ứng với một nhiệm vụ học tập. Điều này phục vụ để việc học của HS thành hành động. Tiếp theo là các bài báo có nhiều ý tưởng hay cần quan tâm nghiên cứu, vận dụng như: “Interactive Teaching Strategies and Techniques” (Chiến lược và kỹ thuật dạy học tương tác) của tác giả Amira A.
Tác giả bài báo đã đưa ra so sánh về ưu điểm và nhược điểm giữa dạy học lấy GV làm trung tâm (Teacher-Centered Learning) và dạy học lấy HS làm trung tâm (Student-Centered Learning), tác giả cũng đề cập đến việc áp dụng một số chiến lược và kĩ thuật dạy học tương tác hiệu quả. Bài báo “Results of Researches on Strategies of Teaching/Learning/Assessment Based on Interactive Learning Methods” [94] (Kết quả nghiên cứu chiến lược giảng dạy/ học tập/ đánh giá dựa trên phương pháp học tập tương tác) của Ramona Like, Gabriela Kelemen (2013), tác giả đã đề cập nhiều phương pháp và lí thuyết về học tập tích cực, nhằm bồi dưỡng tư duy phê phán, chiến lược cho việc áp dụng các phương pháp hoạt động có sự tham gia, phương pháp kích thích sự sáng tạo của HS, phương pháp kích hoạt đa trí tuệ. Bài báo nhấn mạnh ý tưởng rằng việc sử dụng các phương pháp hoạt động, HS đang trở nên quan tâm nhiều hơn và hiệu quả hơn trong việc học. Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề là một phương pháp học tập tích cực, trong đó HS được khuyến khích để tạo ra và giải quyết các vấn đề trong nhóm.
Trong thực tế, kĩ thuật này được dựa trên nguyên tắc giải quyết các vấn đề như là điểm khởi đầu trong sự hiểu biết, và sự tích hợp của kiến thức mới vào các thông tin kinh nghiệm đã được tích luỹ. Bài báo “Interactive teaching methods in contemporary higher education” [91] (Phương pháp dạy học tương tác trong giáo dục đại học hiện đại) của Nadezhda O. Yakovleva (2014) đã đề cập đến chiến lược chính của giáo dục hiện đại nên tập trung vào hoạt động độc lập của HS, tổ chức môi trường tự học, đào tạo thực nghiệm và thực tế, nơi HS có thể lựa chọn các hoạt động cũng như các chương trình đào tạo linh hoạt, nơi HS có thể làm việc với nhịp điệu thoải mái. Việc sử dụng các phương pháp dạy học tương tác, trong đó khuyến khích sự tham gia của HS, thúc đẩy tinh thần hợp tác giữa HS và HS, giữa GV và HS, tăng tính hiệu quả học tập.
Các tác giả đã cung cấp cho một cái nhìn tổng quan về các quan điểm và phương pháp dạy học hiện đại mà phổ biến nhất trong các tài liệu 9 khoa học, có tiềm năng hình thành năng lực của các chuyên gia trong tương lai. Bài “Whole Class Teaching Strategies and Interactive Technology: towards a connectionist classroom” [84] (Chiến lược và kĩ thuật dạy học tương tác toàn lớp: Hướng tới một lớp học kết nối) của David Longman (2015); v.v…Nhìn chung các tác giả đã đề cập đến nhiều phương pháp và lý thuyết về dạy học tương tác, nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, bồi dưỡng tư duy phê phán, kích thích sự sáng tạo, kích hoạt đa trí tuệ của học sinh trong các hoạt động học tập hợp tác [96], [97]. Những nghiên cứu về ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học tương tác. Công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) có thể được gọi là công nghệ giáo dục trong ngành giáo dục.
Nó tạo điều kiện và cải thiện hiệu suất học tập bằng cách sử dụng, quản lí các quy trình công nghệ và nguồn lực thích hợp. Vì vậy, công nghệ thông tin đối với tâm lí học hành vi và giáo dục được gọi đơn giản là việc sử dụng các công nghệ hiện đại, như máy tính, công nghệ kĩ thuật số, thiết bị kĩ thuật số kết nối mạng và kết hợp phần mềm và chương trình học với các tình huống học tập, bảng tính và các bài tập tương tác tạo thuận lợi cho quá trình học tập. Việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông và các phương tiện kỹ thuật hiện đại trong dạy học tương tác cũng được các nhà sư phạm quan tâm nghiên cứu như: “Interactive whiteboards in the classroom” [99] (Bảng trắng tương tác trong lớp học) của Tim Rudd (2010);“Research on the Application of Interactive Electronic Whiteboard in Network Teaching” [103] (Nghiên cứu áp dụng bảng điện tử tương tác trong dạy học mạng) của Yaojun Zhang, Wei Fu, Zhixu Shu. (2011), tác giả đề cập đến việc sử dụng bảng trắng tương tác đa phương tiện trong mạng lớp học tạo nên một hệ thống hướng dẫn tương tác toàn diện, điều này làm tăng tính tương tác và trực quan của dạy học và cũng làm cho dạy học hiệu quả hơn.
Tận dụng lợi thế của các lí thuyết học tập, nhóm cộng tác có thể chú trọng giảng dạy và học tập tương tác giữa HS với GV, tăng sự tham gia và chủ động của HS trong quá trình dạy học lên rất nhiều và làm cho CNTT đóng một vai trò rất quan trọng trong việc giáo dục và giảng dạy. Bài báo “Using Interactive Internet Sites in Teaching” [82] (Sử dụng Website tương tác trong dạy học) của Dan H. Wishnietsky (2004); “How Does the Use of Interactive Whiteboards Affect Teaching and Learning?” [85] (Sử dụng 10 bảng trắng tương tác trong dạy và học hiệu quả như thế nào)? của tác giả Derek S. Và bài của tác giả Daniela Stoica, Florica Paragină, Silviu Paragină, Cristina Miro, (2011).
“The interactive whiteboard and the instructional design in teaching physics” [82].v… Các tác giả đã đề cập đến vai trò của công nghệ thông tin với dạy học tương tác cũng như cách sử dụng chúng như thế nào để phát huy tính tương tác giữa phương tiện với hoạt động dạy và học một cách tốt nhất. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về dạy học tương tác của các tác giả nước ngoài đã phân tích rõ mối quan hệ tương tác qua lại giữa ba nhân tố là người dạy (Thầy), người học (Trò) và môi trường sư phạm. Đưa ra các chiến lược, phương pháp và kỹ thuật trong dạy học tương tác ở đại học và phổ thông. Ở Việt Nam Ngay từ những năm 1960 của thế kỷ XX, Giáo dục và Đào tạo nước ta đã tiếp cận những quan điểm và phương pháp dạy học tiên tiến, hiện đại trên thế giới và được áp dụng vào việc xây dựng chương trình, phương pháp giáo dục đào tạo ở đại học và phổ thông, nhằm đổi mới phương pháp dạy học, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo ở đại học và phổ thông.
Tuy nhiên, quan điểm SPTT mới được quan tâm nghiên cứu trong những năm gần đây. Những nghiên cứu về vai trò và mối quan hệ tương tác giữa các nhân tố của quá trình dạy học Trong cuốn sách “Lý luận dạy học đại học” [45], tác giả Đặng Vũ Hoạt đã đề cập đến sự tương tác giữa các nhân tố của quá trình dạy học. Thầy giáo là chủ thể của hoạt động giảng dạy giữ vai trò chủ đạo, tổ chức, điều khiển, lãnh đạo hoạt động học của sinh viên, đảm bảo cho sinh viên thực hiện tốt mục tiêu dạy học.