CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC TÍCH HỢP TRONG MÔN ĐỊA LÍ 9 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Những vấn đề đổi mới giáo dục phổ thông 1. Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông Chương trình GDPT hiện hành đã quan tâm đúng mức tới giáo dục toàn diện, góp phần quan trọng vào việc đổi mới phương pháp giáo dục theo hướng: Giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn; HS hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo, từng bước ứng dụng công nghệ mới, khuyến khích tự học, tự tìm tòi, khám phá. Tuy nhiên, chương trình hiện nay vẫn còn nghiêng về logic khoa học của từng môn, chưa tập dượt được cho HS việc tự phát hiện và giải quyết vấn đề trong đời sống thực.
Giai đoạn hiện nay, thế giới đang chứng kiến những biến đổi lớn lao trên nhiều lĩnh vực: Sự phát triển nhảy vọt về khoa học công nghệ thời đại 4.0, nền kinh tế tri thức phát triển mạnh mẽ tạo cơ hội phát triển, đồng thời tạo ra những thách thức không nhỏ trong nền kinh tế cạnh tranh. Sức ép dân số, những biến đổi về khí hậu, sự cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái cùng với những bất ổn về chính trị xã hội. cũng đặt ra nhiều thách thức cho toàn nhân loại. Để thích ứng với những thay đổi đó, nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trang bị cho các thế hệ tương lai nền tảng tri thức vững chắc và những năng lực cơ bản nhằm thích ứng tốt với những biến động của tự nhiên và xã hội, ngày 26/12/2018, Bộ trưởng Bộ GD-ĐT đã ban hành chương trình giáo dục phổ thông mới, kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT [16].
Trên cơ sở kế thừa chương trình chương trình giáo dục hiện hành, chương trình giáo dục tổng thể có một số điểm mới cụ thể như sau: Thứ nhất, trong chương trình giáo dục tổng thể, thông qua những kiến thức cơ bản, thiết thực, hiện đại và các phương pháp kĩ thuật tích cực hóa hoạt động của người học, giúp HS hình thành và phát triển được những phẩm chất và năng lực mà nhà trường và xã hội kì vọng; giúp HS hoàn thành các nhiệm vụ học tập, giải quyết các vấn đề trong học tập và đời sống nhờ vận dụng hiệu quả và sáng tạo những kiến thức đã học [16]. Thứ hai, chương trình giáo dục phổ thông có sự phân biệt rõ hai giai đoạn: Giai đoạn giáo dục cơ bản (từ lớp 1 đến lớp 9), giảm tải mạnh nội dung, tăng 18 hoạt động trải nghiệm. Chương trình thực hiện lồng ghép những nội dung liên quan với nhau của một số môn học trong chương trình hiện hành để tạo thành một học tích hợp, thực hiện tinh giản, tránh chồng chéo nội dung giáo dục, giảm hợp lí số môn học; đồng thời thiết kế một số môn học theo các chủ đề, tạo điều kiện cho HS lựa chọn những chủ đề phù hợp với sở thích và năng lực bản thân (tin học và công nghệ, giáo dục thể chất, hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp). Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp (từ lớp 10 đến lớp 12), chú trọng dạy học phân hóa: bên cạnh một số môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc, HS được lựa chọn những môn học và chuyên đề học tập phù hợp với sở thích, năng lực và định hướng nghề nghiệp của mình.
Thứ ba, Chương trình giáo dục phổ thông chú ý hơn đến tính kết nối giữa chương trình của các lớp học, cấp học trong từng môn học và giữa chương trình của các môn học trong từng lớp học, cấp học. Điều này giúp cho kiến thức giữa các môn học, cấp học, lớp học trong chương trình giáo dục có sự kết nối chặt chẽ, giảm sự trùng lặp, chồng chéo giữa các kiến thức liên quan đến nhiều môn học. Thứ tư, Chương trình giáo dục có tính mở, chú ý đến khả năng chủ động và sáng tạo của địa phương và nhà trường cũng như của tác giả SGK, giáo viên trong thực hiện chương trình giáo dục. Môn Địa lí trong chương trình phổ thông cũng có những thay đổi và điều chỉnh đáng kể, phù hợp với mục tiêu phát triển giáo dục [17].
Những điểm mới của chương trình môn học được thể hiện cụ thể như sau: Thứ nhất, chuyển từ tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực; xác định rõ các phẩm chất và năng lực cần đạt; xem các năng lực cần thiết đó như là điểm xuất phát, cơ sở để lựa chọn các kiến thức cần dạy học trong chương trình. Thứ hai, kết hợp đồng tâm với tuyến tính; kế thừa và phát triển hệ thống kiến thức, kĩ năng ở giai đoạn cơ bản theo hướng từ đại cương, thế giới, khu vực, Việt Nam, địa phương. Môn Lịch sử và Địa lí (lớp 6 - 7 - 8 - 9) lần đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam trong chương trình mới với tư cách là môn tích hợp, tuy việc tích hợp còn ở mức thấp. Ở bậc THPT, Địa lí là môn học thuộc nhóm môn khoa học xã hội được lựa chọn theo nguyện vọng và định hướng nghề nghiệp của HS.
Thứ ba, coi trọng thực hành, xem thực hành là một nội dung quan trọng của môn Địa lí và là công cụ thiết thực, hiệu quả để phát triển năng lực HS. Chương 19 trình có sự kế thừa hệ thống kiến thức, kĩ năng của các chương trình trước, đặc biệt của chương trình ban hành năm 2006; bảo đảm liên thông giữa hai giai đoạn (cơ bản và hướng nghiệp). Thứ tư, chương trình đề cao việc tích hợp và coi trọng tất cả các mức độ và loại hình tích hợp khác nhau. Ở cấp THCS, môn Lịch sử và Địa lí gồm các nội dung giáo dục lịch sử, địa lí và một số chủ đề liên môn, đồng thời lồng ghép, tích hợp kiến thức ở mức độ đơn giản về kinh tế, văn hoá, khoa học, tôn giáo,.
Tích hợp kiến thức giữa địa lí tự nhiên, địa lí dân cư, xã hội và địa lí kinh tế; lồng ghép/liên hệ các nội dung liên quan vào nội dung địa lí; vận dụng kiến thức các môn học khác trong việc làm sáng rõ các kiến thức địa lí; hội tụ kiến thức nhiều môn học khác để xây dựng thành các chủ đề có tính tích hợp cao. Các mạch kiến thức lịch sử và địa lí được kết nối với nhau nhằm soi sáng và hỗ trợ lẫn nhau. Ngoài ra có thêm một số chủ đề mang tính tích hợp, như: bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông; đô thị – lịch sử và hiện tại; văn minh châu thổ sông Hồng và sông Cửu Long; các cuộc đại phát kiến địa lí,. Ở mỗi lớp có các chuyên đề cụ thể nhằm thực hiện yêu cầu phân hoá sâu, giúp HS tăng cường kiến thức và kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào giải quyết một số vấn đề thực tiễn, đáp ứng yêu cầu định hướng nghề nghiệp.
Đổi mới về phương pháp dạy học Đổi mới PPDH là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay. Điều 30 Luật giáo dục nêu rõ “Phương pháp giáo dục phổ thông phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc trưng từng môn học, lớp học và đặc điểm đối tượng học sinh; bồi dưỡng phương pháp tự học, hứng thú học tập, kỹ năng hợp tác, khả năng tư duy độc lập; phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực của người học; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào quá trình giáo dục” [67]. Theo quan điểm dạy học phát triển năng lực, PPDH không chỉ chú ý tích cực hóa HS về hoạt động lĩnh hội tri thức mà còn đặc biệt chú ý đến hình thành và phát triển năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn với hoạt động thực hành, thực tiễn. Thêm vào đó, việc tăng cường hoạt động nhóm, đổi mới mối quan hệ giữa GV và HS theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội cho HS.
Chính vì vậy, bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng biệt của môn học cần bổ sung các chủ đề học tập phức hợp nhằm phát triển 20 năng lực giải quyết các vấn đề chung mang tính phức hợp. Đây là căn cứ quan trọng để tổ chức dạy học tích hợp ở trường phổ thông. Trong chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực, đổi mới phương pháp dạy học các môn học cần thực hiện đảm bảo các mục tiêu chung sau đây: - Đề cao vai trò của chủ thể học tập của HS, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc; tập trung rèn luyện kĩ năng, hình thành và phát triển năng lực tự học (sử dụng SGK, nghe, ghi chép, tìm kiếm và xử lí thông tin,…) để HS có thể tiếp tục tìm hiểu, mở rộng vốn văn hóa cần thiết cho bản thân, trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy. - Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc thù của môn học để thực hiện, đảm bảo được nguyên tắc “HS tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức với sự tổ chức, hướng dẫn của GV”.
- Vận dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học một cách linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với mục tiêu, nội dung giáo dục, đối tượng HS và điều kiện cụ thể. Việc sử dụng PPDH gắn chặt với các hình thức tổ chức dạy học. Tùy theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện dạy học cụ thể mà có những hình thức tổ chức thích hợp như học cá nhân, học nhóm; học trong lớp, học ngoài lớp… Cần chuẩn bị tốt về phương pháp đối với các giờ thực hành để đảm bảo yêu cầu rèn luyện kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, nâng cao hứng thú cho người học. - Tăng cường ứng dụng CNTT và truyền thông, sử dụng hợp lí và có hiệu quả các thiết bị dạy học như mô hình hiện vật, tranh ảnh địa lí, bản đồ, sơ đồ, bảng số liệu thống kê, phim video hay các phần mềm dạy học.
nhằm minh họa bài giảng của GV và hỗ trợ hoạt động học tập của HS. Ngoài ra, GV có thể sử dụng các đồ dùng học tập tự làm nếu xét thấy cần thiết với nội dung học và phù hợp với đối tượng HS.