MỞ ĐẦU Cuốn sách này nhằm cung cấp những tư liệu và gợi ý về phương pháp dạy học phản Khí quyển và Thủy quyển trong môn học Địa lí tự nhiên đại cương cho GV và SV trường Cao đẳng Sư phạm Việt Nam theo tinh thần đổi mới PPDH đã được xác định rõ trong Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 4 khóa VỊ (1/1993), lần thứ 2 (khóa VIHI (12/1996) và được thể chế hóa trong Luật giáo dục (12/1998). Mục tiêu trên là đúng nhưng chúng ta, cả người viết, người dạy cũng như người học còn lúng túng là làm thế nào để hiểu đúng và hành động đúng theo tinh thần của các nghị quyết trên. Về lí luận đổi mới PPDH hiện nay đã được các nhà khoa học, các nhà sư phạm dé cập đến nhiều trong các sách báo, qua các phương tiện truyền thông trong cả nước, chúng ta nên thực hành theo lí luận đổi mới đó. Để thực hành có kết quả tốt, theo chúng tôi, bản thân chúng ta hãy mạnh dạn tự đổi mới mình.
Vẻ phía chúng tôi (những người viết) tự đổi mới như thế nào đã được thể hiện trong cuốn sách này qua: - Về nội dung kiến thức: Được cấu tạo phù hợp với hoạt động dạy học theo phương pháp mới và được tăng cường bằng những bài đọc thêm, sách tham khảo, câu hỏi, bài tập, bảng số, hình vẽ. không phải để minh họa mà phải biến chúng thành đồ dùng, phương tiện dạy học. - Về kĩ năng- Tăng cường quan sát tự nhiên, phân tích, dự đoán, giải thích các hiện tượng, quan sát bảng số, hình vẽ, bản đồ địa lí và biết khai thác chúng. - Về thái độ tình cảm: Gây hứng thú học tập phần Khí quyển, Thủy quyền để sau này đạy tốt các bài vẻ Thủy quyển, Khí quyển ở THCS.
Củng cố tính trung thực, không ngại khó, suy nghĩ lôgic, tĩnh thần hợp tác đồng đội; bảo vệ gìn giữ môi trường, cải thiện điều kiện sống cho gia đình và cộng đồng. Về phía người dạy phải đổi mới bằng cách không thỏa mãn với kiến thức đã có, phải tự đào tạo nhằm nâng cao và mở rộng kiến thức để trở thành người tổ chức, người đạo diễn thực thụ hòa mình vào các hiện tượng, các quá trình diễn biến trong bài học. Về phía người học phải đổi mới bằng cách không thụ động, luôn luôn đặt ra các câu hỏi tại sao, vì sao, từ đâu, làm thế nào. tìm ra được đó là chức nãng của một nhà thám hiểm trong sách, chuẩn bị trở thành nhà thám hiểm ngoài tự nhiên trong tương lai.
Cấu trúc của cuốn sách gồm 3 chương: Chương ] - Khí quyển. Chương II — Thúy quyển. Chương III — Thực hành thiết kế tiến trình hoạt động dạy học. Trong mỗi chương gồm nhiều mục nhỏ được thể hiện qua các bước: nêu vấn đề, giải quyết vấn đề, kết luận.
Cuốn sách này dùng cho 2 chương trình nhưng có những yêu cầu khác nhau: Đối với môn Ï: Phải day học tất cả nội dung kiến thức có trong sách, tự đọc các bài dọc thêm và làm các bài tập khó, riêng đối với SV giỏi phải biết vận dụng bài đọc thêm để nghiên cứu khoa học theo hình thức niên luận hay khóa luận. Đối với môn 2: Vì ít thời gian nên có thể bỏ bớt một số công việc như: không phân công SV chuẩn bị đồ đùng dạy học mà chỉ dùng những đồ đàng của GV đã có sẵn. Không bắt buộc phải nghiên cứu các bài đọc thêm, yêu cầu trả lời được các câu hỏi nhằm củng cố kiến thức, không yêu cầu làm các câu hỏi và bài tập khó, không bắt buộc phải giải thích cặn kẽ các quy luật mà chỉ cần công nhận một cách chính xác. Người viết hi vọng cuốn sách này sẽ giúp ích cho các bạn dạy và hoc theo tinh thần đổi mới.
Chúng tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp phê bình của các nhà khoa học, các nhà sư phạm, các bạn đọc để hoàn thiện cuốn sách đúng với yêu cầu đổi mới PPDH của ngành Giáo dục và Đào tạo. ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN ĐẠI CƯƠNG 2 (KHÍ QUYỂN - THUỶ QUYỂN) Mục tiêu : Học phần Địa lí tự nhiên đại cương 2 nhằm trang bị cho sinh viên: - Các đặc điểm cơ bản của hai thành phần Khí quyền - Thuỷ quyền của Trái Đất. - Mối quan hệ giữa hai thành phần Khí quyển - Thuý quyển và mối quan hệ giữa chúng với các thành phần khác trong lớp vỏ địa lí, đặc biệt trong việc điều hoà lượng nhiệt ẩm và phân bố lại năng lượng vật chất trên bề mặt Trái Đất. - Giải thích được các hiện tượng thông thường về khí hậu - thuỷ văn trên Trái Đất và ở nước ta.
- Có các kĩ năng thực hành thu thập, phân tích và xử lí các số liệu khí hậu - thuỷ văn phục vụ việc nghiên cứu và giảng dạy phần Khí quyển - Thuỷ quyển trong chương trình dạy học sau này. Chương Ï KHÍ QUYỀN §1. CÁC KHÁI NIỆM CHUNG 1. Khí quyền Xung quanh Trái Đất có lớp không khí bao bọc gọi là khí quyển, khí quyển cùng tham gia vào các vận động của Trái Đất.
Không khí khác với đất, đá, nước là có khả nang co giãn mạnh, nên mật độ và tỉ trọng của nó giảm nhanh theo chiều cao. Một nửa khối lượng khí quyển tập trung từ mặt đất đến độ cao khoảng 5 km, 3/4 ở dưới 10 km, 9/10 ở đưới 20 km, từ độ cao 20 km trở lên chỉ còn lại 1/10 khối lượng toàn bộ khí quyền ; như vậy càng lên cao không khí càng loãng, đến độ cao khoảng 20.000 km, mật độ của không khí đã giảm gần hết, ta có thể xem đây là giới hạn trên của khí quyển, từ đây trở lên là khoảng chân không bao la. Không khí Không khí khô và trong sạch không màu sắc, không mùi vị, được cấu tạo bởi hai chất khí chính là nitơ (N,) và oxy (O,). Thể tích nitơ chiếm hơn 78%, oxy chiếm gần 21%, ca hai chất chiếm 99,03%, ngoài ra còn có acgông (Ar) chiếm 0,93%, cacbonic (CO,) chiếm 0.
Các chất khí còn lại là nêông (Ne), héli (Hc), kripton (Kr), hydro (H;), ôđôn (O,), tốt () vw. chiếm 0,01%, Tỉ lệ phân trăm này không thay đổi theo chiều ngang cũng như theo chiều cao trong khí quyển. Riêng cacbonic và ôđôn, hai chất khí này phân bố không đều và không ổn định do nguồn gốc phát sinh của chúng. Lượng khí cacbonic trong khí quyển thay đổi và phân bế không đều vì nó phụ thuộc vào nguồn cung cấp CO; cho khí quyển do hít thở, cháy, các khu công nghiệp, núi lửa vv.
Khí CO; tuy có ít (0,03%) trong khí quyển nhưng rất quan trọng vì nó kết hợp với nước, ánh sáng và năng lượng Mặt Trời, cây xanh quang hợp tao nên chất hữu cơ và oxy rất cần cho sự sống của hầu hết sinh vật trên Trái Đất kể cả con người. Quá trình quang hợp được biểu thị bằng phương trình : 6CO, + 6H,O —Rane rong Mat Trot, OH 0, + 60). Lượng khí cacbonic nếu tăng lên gấp rưỡi thì sản phẩm quang hợp sẽ tăng lên. Nhưng nếu tăng lên quá giới hạn cho phép (0.2%) cây sẽ bị ngộ độc chết.
Đặc biệt khí cacbonic còn có khả năng tạo điều kiện chơ năng lượng Mặt Trời xuyên qua khí quyển tới mặt đất và ngăn cản sự phát xạ của mặt đất, cho nên khi lượng cacbonic tăng thì nhiệt độ mặt đất sẽ tăng theo. Lượng-ôdôn chỉ có 0,000001% về thể tích nhưng không ổn định, nó tập trung ở độ cao 25 - 30 km, giảm dần xuống dưới và lên phía trên, đến độ cao khoảng 60km không còn ôdôn. Quá trình hình thành O: từ oxy : khi O, hấp thụ năng lượng Mặt Trời, phân từ O; bị phân l¡ thành nguyên tử. Nguyên tử oxy kết hợp với phân tử oxy thành phân từ ôdôn.
0,2 0+0 O, +O=O, Khi ôdôn hấp thụ năng lượng của tia tử ngoại trong năng lượng Mặt Trời làm cho phân tử ôdôn bị phân li thành nguyên tử và phân tử oxy. 0, 0,+0 O,>O+O Như vậy là trong khí quyền sự hình thành và phân huỷ ôđôn là hai quá trình xây ra đồng thời. Nhờ có ôdôn hấp thụ năng lượng các tia tử ngoại từ bức xạ Mặt Trời nên sự sống trên Trái Đất khong bi de doa. Hién nay tang ôdôn đã bị thủng, lượng ôdôn bị suy giảm, đấy là mối lo chung của xã hội loài người.
Cấu trúc của khí quyển 1. Cấu trúc thẳng đứng. Kết quả nghiên cứu cho thấy khí quyển không đồng nhất theo chiều thắng đứng và bị phân hoá thành tảng, mỗi tầng đều có những đặc điểm riêng của nó. a) Tang đối lưu : Bề đày của tâng đối 1ưu từ mặt đất đến độ cao I0 - 15 km và luôn luôn thay đối theo thời gian và không gian : mùa hè lớn hơn mùa đông, ở xích đạo (15 - 17 km) lớn hơn ở cực (8 km).
Đại bộ phận (4/5) khối lượng không khí của khí quyển nằm trong tầng đối lưu. Đặc điểm nổi bật của tầng đối lưu là nhiệt độ giảm theo chiều cao, trung bình là 0,6°C/100m, ở đỉnh tầng đối lưu nhiệt độ tăng dân từ xích đạo (-70°C) đến cực là (-55°C). Không khí chuyển động mạnh theo chiều thăng đứng, tất cả các quá trình vật lí xảy ra trong tầng đối lưu có ý nghĩa quyết định đến thời tiết và khí hậu ở mat dat. b) Táng bình li : Tầng bình lưu nằm từ giới hạn trên của tầng đối lưu đến độ cao 50 - 60 km.
Đặc điểm của tầng này là nhiệt độ tăng theo chiều cao (do có lớp ôdôn nằm trong tầng này đã hấp thụ năng lượng của tia tử ngoại nên tích luỹ được nang lượng), Chuyển động của không khí theo chiều thắng đứng yếu hẳn đi, mà chuyển động ngang chiếm ưu thế, gió ở đây là gió tây vì hướng của Gradien khí áp nằm ngang là hướng từ xích đạo về 2 cực, các đường đẳng áp thăng và song song không có ma sát. Hơi nước ở đây còn rất ít, song ở độ cao 25 km vẫn còn thấy có mây xà cừ, mây này được câu tạo từ những hạt nước lạnh. €) Tầng giữa : Tầng giữa từ giới hạn trên của tầng bình lưu đến độ cao 75 - 80 km ở đây nhiệt độ giảm mạnh theo chiều cao, từ 0°C ở giới hạn dưới giảm xuống ~75"C ở giới hạn trên. Áp suất của khí quyển ở độ cao 80 km nhỏ hơn 200 lần so với áp suất ở mật đất.
Như vậy là từ mặt đất đến độ cao 80 km đã chiếm 99,5% khối lượng khí quyển, còn từ đây trở lên chỉ còn 0,5% khối lượng khí quyển nghĩa là không khí đã rất loãng.