Chương 1 TÌNH HÌNH TỘI GIẾT NGƯỜI VÀ THỰC TIỄN CÔNG TÁC PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI GIẾT NGƯỜI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI 1. Tình hình tội giết người trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong thời gian gần đây 1. Mức độ của tình hình tội giết người trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong thời gian qua Mức độ của tình hình tội phạm là một chỉ tiêu phản ánh đặc điểm định lượng của tình hình tội phạm, bao hàm tổng thể những hành vi phạm tội đã xảy ra trong thực tế và các chủ thể thực hiện hành vi đó trong một đơn vị thời gian (tháng, quý, năm…) và không gian nhất định (huyện, tỉnh, toàn quốc…) 1.1 Mức độ tổng quan Ở Việt Nam tội phạm liên quan đến hành vi giết người nói chung ngày một gia tăng, với nhiều thủ đoạn tinh vi xảo quyệt, tội phạm liên quan đến hành vi giết người có sự chuẩn bị trước, nhiều tổ chức phạm tội giết người diễn ra đã gây nhiều hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Tội phạm liên quan đến hành vi giết người diễn ra với tính chất côn đồ, hung hãn, trắng trợn, xem thường tính mạng của con người không những gây nên đau thương tang tóc cho gia đình nạn nhân mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân.
Nhiều vụ án, kẻ phạm tội đã sử dụng công cụ, phương tiện cực kỳ nguy hiểm như súng, lựu đạn. gây ra cái chết của nhiều người một cách thương tâm. Dựa vào căn cứ này có thể phân loại các loại tội phạm được cấu thành từ hành vi giết người thành hai nhóm: Nhóm các đối tượng tác động của hành vi giết người là những đối tượng không có dấu hiệu đặc biệt và Nhóm các đối tượng tác động của hành vi giết người là đối tượng đặc biệt. 6 Cơ số tội phạm giết người trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong thời gian qua như sau biến động và không thống nhất.2 Mức độ nhóm Để xác định mức độ và khuynh hướng phạm tội của từng nhóm tội phạm tác giả dựa vào mức độ nhóm của tình hình tội phạm.
Tỉ phần của nhóm tội này (chương XII BLHS) trong tổng số các trường hợp Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai phải xét xử trong 05 năm từ 2013 đến 2017 như sau: 1.3 Mức độ hành vi Chỉ tiêu được phản ánh thông qua cơ số hành vi phạm tội và mức độ phạm tội ở từng tội danh chính là mức độ của tình hình tội phạm tính theo đơn vị tội danh .Đặc điểm định lượng được tổng hợp từ các tội danh có cùng mức độ phạm tội lại với nhau ở mỗi giai đoạn có giá trị đối với nhiều mặt hoạt động của nhà nước, đặc biệt là những tội danh có mức độ phạm tội nhỏ nhất hoặc bằng 0 và những tội danh có mức độ phạm tội lớn nhất. Tác giả chỉ tập trung nghiên cứu và phân tích mức độ phạm tội ở tội giết người. Ở trên địa bà tỉnh Đồng Nai trong 05 năm từ 2013 đến 2017 thì mức độ tội phạm giết người luôn giữ vị trí khá ổn định trong nhóm 10 tội danh có số lần được Tòa án áp dụng để tuyên phạt trong các phiên tòa hình sự sơ thẩm nhiều nhất. - Công tác điều tra cơ bản: Tổng số đối tượng cần xác định điều tra cơ bản trong 3 năm qua (2012 – 2015) là 164, trong đó địa bàn 107, tuyến 35, hệ loại đối tượng 28.
Tổng số hồ sơ điều tra cơ bản đã lập 100 trong đó địa bàn 44, tuyến 6, hệ loại 4. Riêng Phòng PC45 điều tra cơ bản tuyến Quốc Lộ từ ngã tư Vũng Tàu đến huyện Xuân Lộc phục vụ công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trên tuyến giao thông. Công tác điều tra cơ bản đã xác định được tuyến, địa bàn trọng điểm để tổ chức điều tra cơ bản, không tiến hành điều tra tràn lan từ đó 7 khai thác được thông tin tài liệu phục vụ tốt cho công tác sưu tra cũng như tổ chức công tác truy quét góp phần ngăn chặn tội phạm. - Công tác sưu tra: Tổng số đối tượng sưu tra của phòng nghiệp vụ về Công an các huyện, thị xã Long Khánh, Tp Biên Hòa từ năm 2012 đến 2014 là 3576, quá trình thực hiện địa phương đã lập mới 1619 đối tượng, thanh loại 1282 đối tượng, hiện còn quản lý 3913 đối tượng sưu tra đã đăng ký 1326, chưa đăng ký 28 - Công tác sưu tra tuyến địa bàn trọng điểm: Phòng PC45 đã tiến hành sưu tra 20 tuyến địa bàn trọng điểm - Công tác xác minh hiềm nghi: Trong thời gian qua các địa phương đã tiến hành xác lập 199 hiềm nghi, đã kết luận 186 hiềm nghi đẩy lên chuyên án 16, để lại sưu tra 30, khởi tố điều tra 33, còn 13 đang tiếp tục xác minh làm rõ.
- Công tác xây dựng, sử dụng mạng lưới bí mật Để nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa đấu tranh xử lý tội phạm từ năm 2012 đến năm 2014 Phòng PC45 đã tiến hành rà soát đánh giá lại toàn bộ mạng lưới bí mật hiện có, đến cuối năm 2012 lực lượng mạng lưới bí mật của Phòng PC45 cũng sử dụng 67 mạng lưới bí mật gồm Đặc tình: 57, mạng lưới bí mật: 10, trên cơ sở đó tiến hành thanh loại 19 lực lượng hết tác dụng (18 Đặc tình, 1 Cơ sở bí mật), không có điều kiện khả năng hoạt động. Đồng thời đôn đốc chỉ đạo lực lượng trinh sát tăng cường thêm nguồn, phát hiện những người có khả năng, điều kiện cộng tác với Công an để tiến hành các bước xây dựng phát triển vào mạng lưới bí mật, đầu năm đến nay đã phát triển được: 14 lực lượng gồm 12 Đặc tình ( Đặc tình 1: 8, Đặc tình 2: 2, Đặc tình 3: 2), 1 hộp thư, 1 mạng lưới bí mật. Tổng số mạng lưới bí mật hiện có là: 62 gồm 50 Đặc tình (trong đó có: 40 Đặc tình loại 1, 7 Đặc tình loại 2, 3 Đặc tình loại 3, ), 11 mạng lưới bí mật, 1 hộp thư. 8 Qua quá trình sử dụng mạng lưới bí mật cung cấp 2260 nguồn tin, trong đó có 1601 nguồn tin có giá trị phục vụ cho công tác phòng ngừa đấu tranh chống tội phạm.
Công tác xây dựng và sử dụng mạng lưới bí mật của các phòng nghiệp vụ và Công an các đơn vị địa phương thuộc hệ lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội đã có sự chuyển biến tích cực. Một số địa phương đã xây dựng và sử dụng mạng lưới bí mật có chất lượng, có khả năng nắm bắt tình hình địa bàn tiếp cận được các băng nhóm đối tượng, từ đó góp phần thành công trong công tác điều tra chuyên án. Tuy nhiên cần phải nghiên cứu địa bàn và đối tượng để tập trung xây dựng bố trí thế trận mạng lưới bí mật đạt hiệu quả cao hơn. - Công tác xác lập đấu tranh chuyên án : Từ năm 2012 đến năm 2014, lực lượng trinh sát điều tra chống Tội phạm hình sự đã xác lập điều tra 69 chuyên án gồm : chuyên án trinh sát : 30, chuyên án truy xét : 39.
Lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội đã tập trung lực lượng xác lập nhiều chuyên án để tổ chức đấu tranh triệt phá các băng nhóm tội phạm có tính chất chuyên nghiệp, điển hình như chuyên án 409T đấu tranh chống tội phạm làm giả con dấu, tiêu thụ tài sản ; Chuyên án 309K đấu tranh chống tội phạm trộm két sắt ; chuyên án 709G đấu tranh chống tội phạm làm giả con dấu, tài liệu cơ quan nhà nước, đặc biệt là tổ chức lực lượng điều tra chuyên án 182LH đấu tranh chống tội phạm gây rối trật tự công cộng, chống người thi hành công vụ, hủy hoại tài sản, chiếm đoạt vũ khí quân dụng, xúc phạm quốc kỳ. Từ đó góp phần làm hạn chế sự gia tăng của các loại tội phạm. Từ năm 2012 đến năm 2014 đã lập 752 hồ sơ trong đó có 373 hồ sơ đưa Cơ sở giáo dục; 340 hồ sơ đưa Trường giáo dưỡng , đã xét duyệt trình Chủ tịch UBND tỉnh, huyện ra quyết định 238 đối tượng đưa vào Cơ sở giáo dục ; 9 195 đối tượng vào Trường giáo dưỡng. Công tác lập hồ sơ đưa người vào Cơ sở giáo dục - Trường giáo dưỡng đã đạt được hiệu quả.
Tuy nhiên chưa đáp ứng với yêu cầu thực tế của từng địa phương. Nguyên nhân là do Công an địa phương quan tâm chỉ đạo chưa kịp thời, việc lập hồ sơ của Công an cơ sở chưa đầy đủ do đó còn nhiều đối tượng trong diện đưa đi mà hồ sơ không đủ cơ sở để xét duyệt. Qua công tác sưu tra đối tượng, sưu tra địa bàn và xác minh hiềm nghi cũng như xác lập chuyên án cho thấy các đơn vị địa phương đã được chú trọng và quan tâm đến công tác sưu tra, đưa công tác sưu tra đi vào trọng tâm trọng điểm không tiến hành sưu tra tràn lan mà đi vào hệ loại đối tượng cụ thể từ đó đã phát huy hiệu quả của nó. Cơ cấu của tình hình tội giết người trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong thời gian qua Cơ cấu của tình hình tội phạm nói chung và trên địa bà Đồng Nai nói riêng là một đặc điểm mang tính định tính của tình hình tội phạm.Tình hình tội phạm có rất nhiều cơ cấu.
Theo báo cáo thống kê của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai từ năm 2013 đến năm 2017, thì ở Đồng Nai có 1.103 bị cáo đã bị xét xử hình sự sơ thẩm về tội giết người. Cụ thể như sau: - Cơ cấu tình hình tội giết người theo giới tính : Theo như bảng cơ cấu tình hình tội giết người về giới tính của Đồng nai như trên, chúng ta thấy rõ tỷ lệ phạm tội là nam giới luôn cao hơn nữ giới rất nhiều lần, và tỷ lệ này cũng có những biến động nhỏ theo từng năm. Cụ thể năm 2013 tỷ lệ nam giới phạm tội là 96,68 %, trong khi nữ phạm tội chiếm 4,32%; Năm 2014 tỷ lệ nam giới phạm tội là 98,80 % , nữ giới phạm tội là 1,18%; Năm 2015 tỷ lệ nam giới phạm tội là 96,31 % , nữ giới phạm tội là 3,1%; Năm 2016 tỷ lệ nam giới phạm tội là 93,78 % , nữ giới phạm tội là 6,20%; Tuy tỷ lệ nữ giới phạm tội 10 giết người ít hơn tỷ lệ nam giới phạm tội, nhưng tỷ lệ nữ giới phạm tội lại có chiều hướng tăng lên rõ rệt qua các năm.