Chương 1, chúng tôi trình bày những vấn đề liên quan đến văn nghiệp, vị trí, vai trò của Võ Hồng trong nền văn học hiện đại Việt Nam. Vấn đề thứ hai là phác thảo tiến trình văn học sinh thái ở Việt Nam cũng được chúng tôi tập trung thể hiện trong nội dung của chương này. CẢM THỨC SINH THÁI TRONG VĂN XUÔI VÕ HỒNG NHÌN TỪ PHƢƠNG DIỆN NỘI DUNG PHẢN ÁNH Nội dung cơ bản của chương này là khảo sát những biểu hiện của cảm quan sinh thái qua các phương diện gắn liền với nội dung trong văn xuôi Võ Hồng. CẢM THỨC SINH THÁI TRONG VĂN XUÔI VÕ HỒNG NHÌN TỪ PHƢƠNG DIỆN HÌNH THỨC BIỂU HIỆN Trọng tâm của chương này, tác giả đề án tập trung khái quát một số đặc điểm cơ bản liên quan đến cảm quan sinh thái được thể hiện qua về ngôn ngữ, giọng điệu và không gian thời gian nghệ thuật… Từ những vấn đề nghiên cứu được, chúng tôi sẽ có sự so sánh với một số tác gia khác để thấy được sự khu biệt.
VÕ HỒNG VÀ VĂN HỌC SINH THÁI Ở VIỆT NAM 1. Võ Hồng trong đời sống văn chƣơng hiện đại Việt Nam 1. Võ Hồng trong đời sống văn học Việt Nam trước năm 1975 Trước hết xin xác định lại nội hàm của cụm từ Văn học miền Nam. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Q.
Thắng: “Danh xưng “miền Nam” lâu nay mỗi một nhà nghiên cứu sử dụng mỗi cách khác nhau, có người hiểu từ ngữ này thuộc lĩnh vực chính trị, văn học, lịch sử, địa lý. Gần đây (1954 – 1975), danh xưng miền Nam chỉ thuần chính trị so với danh xưng miền Bắc, lấy sông Bến Hải làm giới tuyến quân sự tạm thời chia cắt Việt Nam làm hai miền riêng biệt về chế độ chính trị. Do đó, phần lớn giới nghiên cứu khi nói về miền Nam tức có ý nói từ sông Bến Hải đến Cà Mau, còn miền Bắc từ sông Bến Hải đến biên giới phía Bắc giáp Trung Quốc” [8, tr. Như vậy, văn học tính từ vĩ tuyến số 17 về phía Nam thì được gọi là Văn học miền Nam.
Văn học miền Nam trong giai đoạn 1954 – 1975 là một bộ phận văn học ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt: miền Bắc đang xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa, miền Nam phải sống trong bom đạn chiến tranh dưới sự cai trị của chế độ thực dân kiểu mới Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Tình hình chính trị xã hội luôn trong trạng thái bất ổn. Không khí tang thương của chiến tranh bao trùm lên tất cả. Những mâu thuẫn trong nội bộ chính quyền Sài Gòn cũng dần phát triển ngầm.
Và cùng với sự va chạm của văn hóa phương Tây hội nhập vào, sáng tác văn học cũng phân hóa thành nhiều khuynh hướng. Có thể nói, đây là giai đoạn văn học gắn liền với vận mệnh dân tộc. Văn học miền Nam 1954 – 1975 được chia thành hai bộ phận: văn học vùng giải phóng và văn học đô thị miền Nam. Trong văn học đô thị miền Nam, khuynh hướng văn học tiến bộ yêu nước tuy ít hơn về mặt số lượng tác giả và tác phẩm nhưng lại đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của văn học Việt Nam cũng như thành công của cách mạng miền Nam, đi đến thống nhất đất nước.
Phải nói rằng với 15 ngần ấy năm hiện diện, văn học miền Nam đã có một sức sống mãnh liệt. Đặc biệt, trong hoàn cảnh rối ren đầy phức tạp bấy giờ, một dòng văn học trong trẻo vẫn tồn tại, nuôi dưỡng lành mạnh cho tâm hồn con người: văn học yêu nước tiến bộ. “Sự tồn tại và phát triển của khuynh hướng này là một sự kiện đặc biệt, rất có ý nghĩa. Đó là khuynh hướng ngược dòng, đối nghịch và không nằm trong quỹ đạo văn học thực dân mới.
Nó tiếp nối một cách tự nhiên truyền thống yêu nước, bất khuất của văn học dân tộc và phát triển cao hơn về chất nhờ ảnh hưởng – có khi trực tiếp – của tư tưởng cách mạng” [6, tr. Có thể nói, văn học yêu nước tiến bộ miền Nam như một điểm sáng cho văn học thời kỳ này. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tính cực, văn học miền Nam cũng mang trong mình nhiều nọc độc văn học thực dân mới. Dưới tác động của hoàn cảnh xã hội miền Nam, nhiều trào lưu văn học suy đồi thi nhau ra đời: văn học phản động, văn học đồi trụy, văn nghệ tình thương… Điều đó đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống văn nghệ và lối sống con người miền Nam lúc bấy giờ.
Đi cùng với những chính sách phản động hết sức dã man, chủ nghĩa thực dân mới đã xem văn học là một thứ vũ khí lợi hại để nô dịch dân ta. Những nhà văn thuộc nhóm văn học phản động có thể kể đến như Nguyễn Mạnh Côn, Mai Thảo, Doãn Quốc Sĩ, Vũ Khắc Khoan… Đứng trước tình hình đầy phức tạp đó, những nhà văn yêu nước đã nhận cho mình một nhiệm vụ mới. Họ không thể để cho văn học chống cộng thỏa sức phát triển để lừa bịp nhân dân và làm suy đồi nhân cách con người. Việc cấp bách của họ lúc bấy giờ chính là chọn một hướng đi đúng đắn, giữ vững lập trường, tư tưởng qua ngòi bút của mình để ủng hộ văn học yêu nước, chống lại nọc độc văn học thực dân đầy nguy hiểm kia.
Những cây bút nổi bật có thể kể đến cho khuynh hướng này là Nguyễn Thi, Nguyễn Quang Sáng, Sơn Nam, Trang Thế Hy, Võ Hồng… Võ Hồng là một nhà văn - một nghệ sĩ thực thụ vì những sản phẩm nghệ thuật ông làm ra suốt một thời gian dài đã được công chúng, độc giả đón nhận. 16 Ông có sự kết hợp đầy đủ các yếu tố: tài năng, sự nhạy cảm bẩm sinh và vốn kiến thức văn hóa rộng rãi, cơ bản. Ngoài 8 tiểu thuyết và truyện dài, 70 truyện ngắn, nhiều tập tùy bút và các truyện viết cho thiếu nhi; nhà văn còn có 40 bài viết, bài khảo cứu, phê bình đã được công bố trên các báo. Giá trị ngòi bút của Võ Hồng còn được khẳng định ở chỗ nhiều năm liền tác phẩm của ông được đưa vào giảng dạy trong nhà trường.
Thời gian luôn là thước đo trong việc đánh giá sản phẩm nghệ thuật. Nhiều truyện của Võ Hồng viết cách đây gần 5 thập niên nhưng vẫn được nhắc đến và chưa có dấu hiệu lạc hậu. Ngòi bút của Võ Hồng đã trải nghiệm qua nhiều thể loại. Ông làm thơ, viết tùy bút, sáng tác truyện cho thiếu nhi.
nhưng thành công hơn cả về số lượng và chất lượng vẫn là ở hai thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết. Võ Hồng có 8 tiểu thuyết, trong đó những tác phẩm như: Hoa bươm bướm, Như cánh chim bay, Gió cuốn, Nhánh rong phiêu bạt được tái bản nhiều lần. So với tiểu thuyết, truyện ngắn của Võ Hồng phong phú và giá trị hơn. Một số truyện ngắn nhưng có quy mô của một truyện vừa như Hoài cố nhân, Ngày xưa, Dấu chân sa mạc.
Một số truyện xứng đáng được xếp vào những truyện ngắn hay nhất của văn xuôi Việt Nam hiện đại như Tình yêu đất, Thế giới của Năm Nhiều, Xuất hành năm mới. Võ Hồng khởi nghiệp văn chương bằng truyện ngắn và ông đi suốt con đường sáng tạo nghệ thuật cùng thể loại này. Đặt Võ Hồng trong văn xuôi miền Nam giai đoạn 1954 - 1975, có thể xác định rõ nhà văn thuộc khuynh hướng yêu nước, bảo vệ các giá trị văn hóa dân tộc như Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc hay Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Mộng Giác. Những cách tân về nghệ thuật của Võ Hồng có thể không nổi trội bằng một số cây bút khác nhưng sự nhất quán trong phong cách viết và tư 17 tưởng nghệ thuật tiến bộ của nhà văn đã khiến vị trí của ông luôn được khẳng định, đề cao.
Nhà văn Võ Hồng sống và sáng tác trong lòng đô thị miền Nam. Các tác phẩm của ông mang đậm nội dung yêu nước và kêu gọi tinh thần dân tộc. Khi nhắc đến Võ Hồng, người ta biết ngay ông cùng thời với Sơn Nam, Trang Thế Hy, Vũ Hạnh. Bởi lẽ họ đều sống và sáng tác trong hoàn cảnh xã hội miền Nam đầy phức tạp.
Họ bất bình trước thực trạng xã hội và cùng nhau cất lên tiếng nói yêu nước của mình để cảnh tỉnh nhân dân, kêu gọi tinh thần dân tộc. Đặt sáng tác của Võ Hồng vào giai đoạn văn xuôi miền Nam 1954-1975 cùng những nhà yêu nước khác sẽ xác định rõ nhà văn sáng tác theo khuynh hướng yêu nước và bảo vệ những giá trị văn hóa dân tộc. Huỳnh Như Phương trong bài viết của mình đã có nhận xét: “Võ Hồng, Trang Thế Hy, Sơn Nam: ba phong cách độc đáo trong văn học, cũng là nhân cách thể hiện lẽ xuất xứ của ba kẻ sĩ thời nay. Cả ba đều thuộc thế hệ chứng kiến cuộc Cách mạng tháng Tám, đi qua hai cuộc chiến tranh, đã nếm trải những dằn xóc của thời cuộc và đang tiếp tục đóng góp cho văn chương dân tộc.
Trọn cuộc đời họ đã sống đàng hoàng với lương tri của người công dân và lương tâm của người nghệ sĩ. Họ không những là tác giả có vị trí vững vàng trong lịch sử văn học, xứng đáng nằm trong tủ sách các nhà văn hiện đại mà còn là những nhân vật làm chứng cho thời đại chúng ta, đối tượng của những công trình biên khảo và chân dung lịch sử” [3, tr. Thật vậy, mảnh đất văn học mà những nhà văn này đã gieo trồng từ hạt mầm của tấm lòng yêu quê hương, đất nước chắc chắn sẽ luôn được người đọc mai sau vun xới, bảo tồn và trân trọng. Có lẽ, sự nhất quán trong cách viết, cách sáng tạo và tư tưởng nghệ thuật chân chính của Võ Hồng đã khiến vị trí của ông luôn được khẳng định và đề cao trong văn học miền Nam.
Với nhân dân miền Nam, ông vẫn giữ cho ngòi bút của mình đứng vững và có thái độ khách quan, trung thực với lương tâm của người cầm bút. Tất cả những gì hiện ra dưới ngòi bút của ông, trước khi 18 biến thành mực thấm vào trang sách đã chảy qua trái tim yêu nước bắt nguồn từ truyền thống dân tộc. Quả thật, không gì quý bằng trên quãng đường đi quá nửa đời người, ông vẫn giữ được tấm lòng son sắc với máu thịt của nhân dân mà không hề bị phai nhạt.