Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam (mã số 62 22 01 21) với đề tài “Tự nhiên” và “nữ giới” trong văn xuôi nữ Việt Nam đương đại nhìn từ nữ quyền luận sinh thái được nghiên cứu sinh Hoàng Lê Anh Ly thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2022, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thành Thi.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong bối cảnh môi trường sinh thái toàn cầu suy thoái nghiêm trọng, sự nóng lên của khí hậu đe dọa sinh quyển, cùng với tình trạng bất bình đẳng giới tiếp diễn kéo dài, nhận thức của nhân loại về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên đòi hỏi sự điều chỉnh đa chiều và toàn diện. Sự ra đời của lý thuyết nữ quyền sinh thái (ecofeminism) từ thập niên 70 của thế kỷ XX và bước chuyển sang phê bình văn học nữ quyền sinh thái từ thập niên 90 của thế kỷ XX đã mở ra hệ hình tiếp cận kết hợp giữa phong trào giải phóng phụ nữ và phong trào bảo vệ môi trường. Lý thuyết này chỉ ra mối liên hệ tương đồng về bản chất giữa sự thống trị của nam quyền đối với nữ giới và sự thống trị của con người đối với tự nhiên, bắt nguồn từ hệ tư tưởng gia trưởng và tư duy nhị nguyên phân cấp.
Tại Việt Nam, phê bình nữ quyền sinh thái xuất hiện muộn hơn so với thế giới và chưa được phát triển một cách quy mô, hệ thống. Mặc dù thực tiễn sáng tác văn xuôi của các cây bút nữ đương đại như Võ Thị Hảo, Dạ Ngân, Quế Hương, Võ Thị Xuân Hà, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy, Thuận, Phong Điệp đã bộc lộ sự nhạy bén đối với các vấn đề sinh thái và giới, nhưng các công trình nghiên cứu trong nước trước đây chủ yếu dừng lại ở mức độ giới thiệu dịch thuật, tiếp cận đơn lẻ từng tác phẩm hoặc tích hợp phụ trợ trong các công trình phê bình sinh thái và phê bình nữ quyền nói chung. Khoảng trống nghiên cứu về một công trình chuyên khảo khảo sát toàn diện, bao quát và có hệ thống về hình tượng tự nhiên và nữ giới trong văn xuôi nữ Việt Nam đương đại dưới góc nhìn nữ quyền sinh thái chính là lý do tác giả lựa chọn thực hiện đề tài này.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án được tác giả xác định cụ thể như sau:
- Tìm hiểu và ứng dụng hệ thống lý thuyết nữ quyền sinh thái để soi chiếu, khảo sát sáng tác của các nhà văn nữ Việt Nam đương đại.
- Chỉ ra sự tồn tại song song và tương quan giữa hình tượng “nữ giới” và “tự nhiên” trên các phương diện: vẻ đẹp, sức sống, sức đề kháng và vị thế; từ đó khẳng định vai trò, vị trí của tự nhiên và phụ nữ qua ý thức nghệ thuật và góc nhìn của chủ thể nữ trong văn xuôi đương đại.
- Phân tích diễn ngôn trần thuật mang thiên tính nữ, tìm hiểu phong cách hòa phối và cách thức kiến tạo diễn ngôn của các nhà văn nữ nhằm góp phần nâng cao nhận thức về giới và cảnh tỉnh thái độ ứng xử của con người đối với môi trường tự nhiên.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hình tượng “tự nhiên” và “nữ giới” trong văn xuôi nữ Việt Nam đương đại nhìn từ hệ hình lý thuyết nữ quyền sinh thái, tập trung vào hai bình diện: ý thức nghệ thuật/góc nhìn của chủ thể nữ và phương thức tổ chức trần thuật nghệ thuật.
- Phạm vi nghiên cứu: Các sáng tác văn xuôi (chủ yếu là truyện ngắn và tiểu thuyết) của các tác giả nữ Việt Nam từ sau năm 1986 đến thời điểm nghiên cứu, trong đó tập trung khảo sát sâu các tác phẩm được xuất bản từ đầu thế kỷ XXI đến năm 2022 – giai đoạn các vấn đề nữ quyền sinh thái được biểu hiện rõ nét nhất.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong phần tổng quan tình hình nghiên cứu, tác giả luận án đã phân loại các công trình liên quan thành ba nhóm chính: du nhập lý thuyết, thực hành phê bình và ứng dụng phê bình nữ quyền sinh thái trong nghiên cứu văn học.
Các hướng nghiên cứu trước đây được điểm lại
-
Về phương diện du nhập lý thuyết và dịch thuật:
- Các công trình nền tảng về nữ quyền và phê bình văn hóa: Bản dịch công trình của Simone de Beauvoir do Nguyễn Trọng Định dịch (1996) chỉ ra sự tương đồng giữa thân phận phụ nữ bị chiếm hữu và giới tự nhiên bị khai thác; cuốn Rừng đàn bà điên loạn (Đi qua miền mơ tưởng Giarai) của Jacques Dournes do Nguyên Ngọc dịch (2006) phân tích mối liên hệ giữa tự nhiên và văn hóa trong chế độ mẫu hệ; bản dịch Căn phòng riêng của Virginia Woolf do Trịnh Y Thư dịch (2008/2009); cuốn Sự thống trị của nam giới của Pierre Bourdieu do Lê Hồng Sâm dịch (2011) phân tích "nghịch lý của dư luận" và bạo lực tượng trưng; công trình Nữ quyền và tự truyện: Văn bản, lý thuyết và phương pháp của Tess Cosslett, Celia Lury và Penny Summerfield do Nguyễn Thị Thanh Xuân dịch (2013); và cuốn Bí ẩn nữ tính của Betty Friedan do Nguyễn Vân Hà dịch (2015).
- Các công trình giới thiệu phê bình sinh thái và nữ quyền sinh thái: Báo cáo thuyết trình của Karen Thornber tại Viện Văn học (2011) và tiểu luận Những tương lai của phê bình sinh thái và văn học do Hải Ngọc dịch (2013/2017); bài dịch Nghiên cứu văn học trong thời đại khủng hoảng môi trường của Trần Thị Ánh Nguyệt (2014) từ tuyển tập của Cheryll Glotfelty và Harold Fromm; bài dịch chương 3 cuốn Nghiên cứu hình thái đạo đức của chủ nghĩa nữ quyền sinh thái của Viên Linh Hồng do Trần Mạnh Tiến dịch (2016); tập sách Phê bình sinh thái là gì? do Hoàng Tố Mai chủ biên (2017) với các bài dịch của Phạm Phương Chi về tiểu luận của Karen J. Warren (Tự nhiên như là một vấn đề nữ quyền) và Richard Kerridge (Môi trường luận và phê bình sinh thái).
-
Về phương diện thực hành và ứng dụng phê bình:
- Các chuyên luận và bài viết chuyên sâu: Phạm Ngọc Lan (2016) với bài viết ứng dụng phê bình nữ quyền sinh thái phân tích tác phẩm Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư; công trình Con người và tự nhiên trong văn xuôi Việt Nam sau năm 1975 từ góc nhìn sinh thái của Trần Thị Ánh Nguyệt và Lê Lưu Oanh (2016) khảo sát các sáng tác của Nguyễn Dậu, Quý Thể, Trần Duy Phiên; chuyên luận Rừng khô, suối cạn, biển độc… và văn chương – Phê bình sinh thái cùng bài báo chuyên khảo của Nguyễn Thị Tịnh Thy (2017); công trình Phê bình sinh thái với văn xuôi Nam Bộ do Bùi Thanh Truyền chủ biên (2018); cuốn Nữ Quyền luận ở Pháp và tiểu thuyết nữ Việt Nam đương đại của Trần Huyền Sâm (2016).
- Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Phê bình sinh thái – Tiếng nói bản địa, tiếng nói toàn cầu (Viện Văn học, 2017) với các nghiên cứu của Bùi Thanh Truyền, Lê Thị Hường, Đỗ Hải Ninh, Trịnh Đặng Nguyên Hương, Nguyễn Thùy Trang, Hoàng Lê Anh Ly, Phan Thị Thu Hiền.
- Các luận án tiến sĩ và bài báo khoa học liên quan: Luận án của Nguyễn Thùy Trang (2018) về tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1986–2014 từ góc nhìn sinh thái; bài viết của Lê Thị Thanh Xuân (2019) về nữ quyền sinh thái trong truyện ngắn nữ đương đại; nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngân (2019) về đề tài tiểu thuyết nữ; và luận án của Hồ Khánh Vân (2020) so sánh văn xuôi nữ Việt Nam – Trung Quốc qua trường hợp Dạ Ngân và Thiết Ngưng.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tác giả nhận định: phần lớn các nghiên cứu trước đây ở Việt Nam chỉ xem nữ quyền sinh thái như một nhánh nhỏ nằm trong phê bình sinh thái hoặc phê bình nữ quyền, các thao tác phân tích văn bản còn mang tính phân tán, rời rạc, chưa có một công trình nào khảo sát chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống về mối quan hệ giữa tự nhiên và nữ giới trong văn xuôi nữ đương đại. Luận án được triển khai nhằm xây dựng một khung phân tích hoàn chỉnh, kết hợp giữa bình diện nội dung ý thức nghệ thuật và hình thức tổ chức trần thuật của các nhà văn nữ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm cốt lõi
Luận án vận dụng hệ thống lý thuyết nữ quyền sinh thái (Ecofeminism) được khởi xướng từ thuật ngữ của Françoise d'Eaubonne (1974) trong tác phẩm Le Féminisme ou la Mort, cùng các công trình phát triển sau đó của Carolyn Merchant, Karen J. Warren, Val Plumwood, Greta Gaard, Naomi Guttman, Cheryll Glotfelty, Richard Kerridge, Susan Buckingham và Daniel Pérez Marina.
-
Các trường phái nữ quyền sinh thái:
- Nữ quyền sinh thái văn hóa (Cultural Ecofeminism): Tiêu biểu với Starhawk, Riane Eisler, Carol J. Adams; nhấn mạnh mối liên hệ gần gũi giữa phụ nữ và tự nhiên bắt nguồn từ cấu trúc sinh học và vai trò giới (mang thai, sinh nở, nuôi dưỡng).
- Nữ quyền sinh thái xã hội (Social Ecofeminism): Phê phán bản chất luận (essentialism) và tính phổ quát; quan niệm căn tính của phụ nữ được kiến tạo qua cấu trúc lịch sử – xã hội, giai cấp, sắc tộc.
- Nữ quyền sinh thái duy vật (Materialist/Socialist/Marxist Ecofeminism): Tiêu biểu với Carolyn Merchant, Susan Buckingham; gắn kết sự áp bức phụ nữ và bóc lột thiên nhiên với các thể chế lao động, sản xuất hàng hóa và quyền sở hữu tài sản.
- Nữ quyền sinh thái cấp tiến (Radical Ecofeminism): Sử dụng khái niệm chế độ phụ quyền (patriarchy) làm công cụ phân tích sự hạ thấp giá trị của phụ nữ và tự nhiên, phản đối chủ nghĩa lấy con người làm trung tâm.
-
Các phương diện kết nối và giải cấu trúc:
- Đặc trưng kết nối giữa nữ giới và tự nhiên: Luận án phân tích sáu dạng kết nối chính gồm: kết nối các hình thức thống trị (Conceptual connections), kết nối thực nghiệm (Experiential connections), kết nối tượng trưng (Symbolic connections), kết nối lịch sử (Historical connections), kết nối chính trị (Political connections) và kết nối nữ tính/vô thức (Feminine/Unconscious connections).
- Giải cấu trúc chủ nghĩa nhị nguyên và chủ nghĩa trung tâm: Dựa trên mô hình của Val Plumwood và sự phân tích của Daniel Pérez Marina, luận án chỉ ra logic áp bức tương đồng giữa chủ nghĩa nam quyền trung tâm (Androcentrism) và chủ nghĩa nhân loại trung tâm (Anthropocentrism) qua năm đặc trưng: Loại trừ triệt để (Radical exclusion), Đồng nhất hóa (Homogenization), Phủ nhận (Denial), Sát nhập (Incorporation) và Chủ nghĩa công cụ (Instrumentalism).
| Tiêu chí so sánh |
Chủ nghĩa nam quyền trung tâm (Androcentrism) |
Chủ nghĩa nhân loại trung tâm (Anthropocentrism) |
| Quan niệm vị thế |
Tư duy nam giới trung tâm, khẳng định sự vượt trội của nam giới so với phụ nữ. |
Tư duy lấy con người làm trung tâm, khẳng định sự vượt trội của con người so với tự nhiên. |
| Cấu trúc quyền lực |
Sắp xếp, điều đình hệ thống cấu trúc thống trị của nam giới; thực thi quyền lực lên phụ nữ. |
Xác lập con người có luân lý; con người thực thi quyền lực đối với thế giới tự nhiên. |
| Đánh giá giá trị |
Phủ nhận hoặc bỏ qua các giá trị của phụ nữ; lấy đàn ông làm tiêu chuẩn đánh giá. |
Giá trị xác đáng duy nhất là giá trị con người; lấy con người làm thước đo vạn vật. |
| Phân cấp thứ bậc |
Phân cấp giá trị: đàn ông/phụ nữ, văn hóa/bản năng, linh hồn/thể xác, lý trí/cảm xúc. |
Phân cấp giá trị: con người/thiên nhiên, văn hóa/tự nhiên, linh hồn/thể xác, lý trí/cảm xúc. |
| Đặc quyền xác lập |
Đặc quyền của đàn ông gắn với công việc, địa vị, tính chủ động, bạo lực và quyền hạn. |
Đặc quyền của con người gắn với luân lý, quyền làm chủ, tính toàn vẹn và quyền năng khai thác. |
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu văn học định tính và tiếp cận liên ngành:
- Phương pháp xã hội – lịch sử: Tìm hiểu nguồn gốc xuất hiện và quá trình vận động của ý thức nữ quyền sinh thái trong tiến trình văn học Việt Nam.
- Phương pháp cấu trúc – hệ thống: Định hình các đặc trưng lý thuyết và các cấp độ biểu hiện của diễn ngôn nữ quyền sinh thái trong chỉnh thể tác phẩm.
- Phương pháp so sánh – loại hình: Đối chiếu sáng tác giữa các thời kỳ lịch sử, giữa nhà văn nam và nhà văn nữ để làm rõ nét đặc thù của văn xuôi nữ đương đại.
- Phương pháp phê bình cổ mẫu: Giải mã các biểu tượng tự nhiên mang tính phổ quát bắt nguồn từ văn hóa, tín ngưỡng dân tộc.
- Các thao tác bổ trợ: Phân tích – tổng hợp và thống kê ngữ liệu hình tượng, chi tiết nghệ thuật trong văn bản.
Nguồn dữ liệu khảo sát
Dữ liệu khảo sát bao gồm hệ thống truyện ngắn, tiểu thuyết của các tác giả nữ Việt Nam tiêu biểu từ năm 1986 đến năm 2022, trong đó tập trung vào các tập sách của Nguyễn Ngọc Tư, Võ Thị Hảo, Quế Hương, Dạ Ngân, Đỗ Bích Thúy, Thuận, Phong Điệp, Võ Thị Xuân Hà.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Nữ quyền sinh thái và vấn đề nghiên cứu nữ quyền sinh thái trong văn học nữ Việt Nam đương đại
Chương 1 thiết lập khung lý thuyết toàn diện cho luận án. Tác giả trình bày lịch sử hình thành thuật ngữ nữ quyền sinh thái, phân tích bốn trường phái lý thuyết (văn hóa, xã hội, duy vật, cấp tiến) và các đặc trưng cốt lõi của phê bình nữ quyền sinh thái. Trọng tâm của chương là việc làm rõ logic áp bức song hành giữa phụ nữ và tự nhiên thông qua việc giải cấu trúc chủ nghĩa nhị nguyên, chủ nghĩa nhân loại trung tâm và chủ nghĩa nam quyền trung tâm. Tác giả cũng tổng thuật chi tiết tiến trình tiếp nhận lý thuyết tại Việt Nam qua các hoạt động dịch thuật và phê bình thực hành, từ đó khẳng định tính khả thi và tiềm năng của việc ứng dụng hệ hình này vào khảo sát văn học nữ nước nhà.
Chương 2: Vấn đề “nữ quyền” và vấn đề “sinh thái” trong sáng tác của tác giả nữ Việt Nam: một cái nhìn lịch đại
Chương 2 khảo sát tiến trình vận động của ý thức nữ quyền và ý thức sinh thái trong văn học nữ Việt Nam theo trục thời gian:
- Ý thức nữ quyền: Đi từ sự manh nha, xác lập trong văn học trung đại (thế kỷ XVIII đến cuối thế kỷ XIX với các tác giả như Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan), qua giai đoạn hiện đại đầu thế kỷ XX đến năm 1975, đến sự chuyển biến mạnh mẽ sau năm 1975.
- Ý thức sinh thái: Vận động từ cảm quan giao hòa nguyên sơ thời trung đại, qua phản ánh hiện thực môi trường trong chiến tranh giai đoạn 1945–1975, đến nhận thức khủng hoảng sinh thái sau năm 1975.
- Sự hình thành diễn ngôn nữ quyền sinh thái: Phân tích sự khúc xạ của lý thuyết phương Tây kết hợp với bản chất nội tại của nữ giới Việt Nam để chuyển hóa từ "vấn đề" thành "diễn ngôn" nghệ thuật trong văn xuôi đương đại, đánh giá những thành tựu bước đầu cùng các điểm còn hạn chế.
Chương 3: “Tự nhiên” và “nữ giới” qua ý thức nghệ thuật và góc nhìn của chủ thể nữ trong văn xuôi nữ Việt Nam đương đại
Chương 3 đi sâu phân tích hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn xuôi nữ:
- Sự thay đổi điểm nhìn: Sự trỗi dậy của ý thức nghệ thuật nữ quyền và sự chuyển dịch điểm nhìn trần thuật sang góc nhìn của chủ thể nữ.
- Nét tương đồng về vẻ đẹp: Khảo sát vẻ đẹp phồn thực và vẻ đẹp thiên tính mẫu – khả năng tái sinh sự sống, nuôi dưỡng và che chở của cả tự nhiên lẫn người phụ nữ.
- Sự tương hợp về vị thế ngoại biên: Phân tích hình tượng nam quyền ở vị trí "trung tâm" đối lập với tự nhiên và nữ giới ở vị trí "ngoại biên", "kẻ khác" bị bóc lột, nô dịch. Đồng thời, chương này chỉ ra sự chia sẻ, đồng cảm sâu sắc giữa nữ giới và thiên nhiên, cũng như bản lĩnh và sức đề kháng bền bỉ của họ trước sự áp chế của trật tự phụ quyền.
Chương 4: “Tự nhiên” và “nữ giới” qua phương thức tổ chức trần thuật trong văn xuôi nữ Việt Nam đương đại
Chương 4 khảo sát các phương diện thi pháp và hình thức tổ chức tự sự:
- Diễn ngôn trần thuật nữ: Xác định đặc trưng của diễn ngôn mang đậm thiên tính nữ như phương tiện biểu đạt cảm quan sinh thái.
- Kỹ thuật tự sự: Phân tích hình thức tự thuật (autobiographical narrative) kiểu nữ giới như một phương thức bộc lộ nội tâm và trải nghiệm thân thể.
- Phong cách hòa phối diễn ngôn: Khảo sát nghệ thuật hòa phối đa thanh giữa độc thoại nội tâm và đối thoại, giữa lời người kể chuyện và lời nhân vật.
- Kiến tạo ký hiệu quyển và biểu tượng cổ mẫu: Phân tích không gian đô thị như một mã không gian đối kháng biến phụ nữ và tự nhiên thành nạn nhân, cùng các biểu tượng thiên nhiên (đất, nước, cây, rừng) mang dấu ấn cổ mẫu tâm linh trong văn hóa truyền thống.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Hệ thống hóa các khái niệm, lịch sử hình thành, trường phái tư tưởng và các mô hình phân tích của chủ nghĩa nữ quyền sinh thái, góp phần bổ sung một khung lý thuyết tiếp cận văn học liên ngành tại Việt Nam.
- Làm rõ cơ chế vận hành của các cấu trúc nhị nguyên và logic thống trị song hành của chủ nghĩa nhân loại trung tâm và chủ nghĩa nam quyền trung tâm, cung cấp hệ tiêu chí để nhận diện diễn ngôn nữ quyền sinh thái trong văn bản văn học.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Luận giải toàn diện sự tương đồng giữa hình tượng nữ giới và tự nhiên trong văn xuôi nữ Việt Nam đương đại trên cả bình diện thẩm mỹ (vẻ đẹp phồn thực, thiên tính mẫu), xã hội học (thân phận ngoại biên, nạn nhân của văn minh công nghiệp/đô thị) và đạo đức sinh thái (sức đề kháng, sự hòa giải).
- Phân tích có hệ thống các đặc trưng thi pháp trần thuật của văn xuôi nữ đương đại từ góc nhìn giới và sinh thái, chỉ ra cách thức tổ chức ngôn ngữ, điểm nhìn, kỹ thuật tự thuật và hệ thống biểu tượng cổ mẫu mang tính đặc thù của các nhà văn nữ.
- Nâng cao nhận thức xã hội về mối liên hệ giữa bảo vệ môi trường và giải phóng phụ nữ, đề xuất thay đổi chuẩn mực ứng xử của con người hướng đến sự phát triển bền vững và công bằng sinh thái.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Hệ thống lý thuyết phê bình nữ quyền sinh thái tại Việt Nam vẫn đang trong quá trình tiếp nhận và hoàn thiện, nguồn tài liệu dịch thuật trong nước còn tản mác nên việc xây dựng một mô hình lý thuyết hoàn toàn khép kín mang tính đặc thù bản địa còn gặp những rào cản nhất định.
- Phạm vi khảo sát của luận án tập trung chủ yếu vào thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết của các tác giả nữ đương đại tiêu biểu, chưa thể bao quát toàn bộ các thể loại văn học khác như thơ ca, kịch bản, ký sự hoặc các sáng tác của các tác giả nam giới có biểu hiện cảm quan nữ quyền sinh thái.
Hướng nghiên cứu tiếp nối
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các thể loại phi hư cấu, thơ ca đương đại và văn học dân tộc thiểu số từ góc nhìn nữ quyền sinh thái.
- Thực hiện các nghiên cứu so sánh đối chiếu giữa sáng tác của tác giả nữ và tác giả nam về đề tài môi trường – giới, hoặc so sánh văn xuôi nữ quyền sinh thái Việt Nam với các nước trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tư liệu và phương pháp luận thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng học thuật:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Văn học Việt Nam, Lý luận văn học, Văn hóa học, Xã hội học và Giới tính học: Cung cấp tài liệu tham khảo chuyên sâu về khung lý thuyết phê bình nữ quyền sinh thái và phương pháp phân tích văn bản nghệ thuật theo hướng liên ngành.
- Giảng viên và nhà nghiên cứu văn học: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy cho các chuyên đề về văn học Việt Nam đương đại, tiến trình văn học nữ, lý thuyết phê bình hiện đại và hậu hiện đại.
- Các nhà hoạt động xã hội và nghiên cứu văn hóa – môi trường: Tham khảo các luận điểm về mối liên hệ giữa văn hóa phụ quyền, đạo đức sinh thái và nhận thức giới nhằm phục vụ công tác truyền thông, giáo dục nâng cao ý thức cộng đồng về bình đẳng giới và bảo vệ môi trường.
Câu hỏi thường gặp
1. Thuật ngữ "nữ quyền sinh thái" xuất hiện lần đầu tiên khi nào và do ai khởi xướng?
Thuật ngữ "nữ quyền sinh thái" (ecofeminism hay ecological feminism) xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1974 trong cuốn sách Chủ nghĩa nữ quyền hay là chết (Le Féminisme ou la Mort, Paris: P. Horay) của tác giả người Pháp Françoise d'Eaubonne. Tác giả đưa ra thuật ngữ này nhằm mô tả các phong trào và triết lý liên kết phong trào giải phóng phụ nữ với phong trào sinh thái, nhấn mạnh tiềm năng của phụ nữ trong cuộc cách mạng bảo vệ môi trường.
2. Luận án phân loại chủ nghĩa nữ quyền sinh thái thành những trường phái tư tưởng chính nào?
Luận án phân tích bốn trường phái tư tưởng chủ đạo:
- Nữ quyền sinh thái văn hóa: Nhấn mạnh sự gắn kết tự nhiên giữa phụ nữ và môi trường qua thiên tính mẫu và vai trò sinh học.
- Nữ quyền sinh thái xã hội: Bác bỏ tính phân đôi tự nhiên – văn hóa và thuyết bản chất, nhấn mạnh căn tính phụ nữ được kiến tạo qua cấu trúc lịch sử – xã hội.
- Nữ quyền sinh thái duy vật: Gắn nguồn gốc áp bức phụ nữ và thiên nhiên với các thể chế lao động, tài sản và phân cấp kinh tế.
- Nữ quyền sinh thái cấp tiến: Sử dụng khái niệm chế độ phụ quyền để phê phán trật tự nam trị và phi nhân loại trung tâm.
3. Mô hình giải cấu trúc chủ nghĩa nhân loại trung tâm và nam quyền trung tâm trong luận án dựa trên cơ sở nào?
Mô hình giải cấu trúc trong luận án được xây dựng dựa trên lý thuyết của Val Plumwood và sự phân tích của Daniel Pérez Marina (Anthropocentrism and Androcentrism – An Ecofeminist Connection), chỉ ra năm đặc trưng áp bức chung:
- Loại trừ triệt để (Radical exclusion): Phân biệt tuyệt đối giữa trung tâm và ngoại vi.
- Đồng nhất hóa (Homogenization): Coi các đối tượng bị trị là giống nhau, có thể thay thế.
- Phủ nhận (Denial): Phủ nhận sự phụ thuộc của trung tâm vào ngoại vi.
- Sát nhập (Incorporation): Không thừa nhận tính tự chủ, định nghĩa kẻ khác dựa trên nhu cầu của trung tâm.
- Chủ nghĩa công cụ (Instrumentalism): Xem kẻ khác là công cụ, tài nguyên phục vụ lợi ích của trung tâm.
4. Tình hình nghiên cứu phê bình nữ quyền sinh thái tại Việt Nam trước luận án được tác giả đánh giá như thế nào?
Tác giả đánh giá phê bình nữ quyền sinh thái tại Việt Nam là kết quả của chuỗi "phản ứng muộn màng", chỉ mới được quan tâm trong khoảng mười năm trở lại đây. Các công trình chủ yếu dừng ở mức độ dịch thuật lý thuyết đại cương hoặc lồng ghép phụ trợ trong phê bình sinh thái, phê bình nữ quyền, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu, tập trung và có tính hệ thống tương xứng với thực tiễn sáng tác văn xuôi nữ đương đại.
5. Phương thức tổ chức trần thuật trong văn xuôi nữ đương đại được luận án phân tích qua những khía cạnh nào?
Phương thức tổ chức trần thuật được phân tích qua bốn khía cạnh:
- Diễn ngôn trần thuật nữ mang đậm cảm quan thiên tính nữ.
- Hình thức tự thuật kiểu nữ giới như một kỹ thuật tự sự đặc thù.
- Phong cách hòa phối đa thanh giữa độc thoại nội tâm và đối thoại, giữa lời người kể chuyện và lời nhân vật.
- Cách kiến tạo ký hiệu quyển không gian đô thị (nơi phụ nữ và tự nhiên là nạn nhân) cùng hệ thống biểu tượng thiên nhiên mang dấu vết cổ mẫu tâm linh truyền thống.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Hoàng Lê Anh Ly là công trình nghiên cứu hệ thống về mối quan hệ giữa tự nhiên và nữ giới trong văn xuôi nữ Việt Nam đương đại dưới góc nhìn phê bình nữ quyền sinh thái. Thông qua việc giải cấu trúc tư duy nhị nguyên, chủ nghĩa nhân loại trung tâm và chủ nghĩa nam quyền trung tâm, luận án đã làm sáng tỏ sự tương đồng về số phận, vẻ đẹp và sức đề kháng của tự nhiên và người phụ nữ trong các tác phẩm văn xuôi. Công trình không chỉ đóng góp một khung phân tích liên ngành có giá trị học thuật đối với nghiên cứu văn học Việt Nam mà còn góp phần thức tỉnh nhận thức về đạo đức sinh thái và bình đẳng giới trong xã hội đương đại.