Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Giản lươ ̣c về phê bình sinh thái và những khả năng của nó trong nghiên cứu văn học Việt Nam Con người vốn có nguồn gốc tự nhiên. Trải qua quá trình tiến hóa, con người đã dần thoát khỏi giới tự nhiên để trở thành một cá thể độc lập. Đó cũng ̀ h biế n đổi mố i quan hê ̣ con người-tự nhiên.
là quá trin Ở thời kì đầu, vì chưa hiểu rõ về sự vận hành của trời đất, quy luật của các hiện tượng tự nhiên cũng như sống hoàn toàn phụ thuộc vào tự nhiên nên con người nguyên thủy luôn nhìn tự nhiên bằng ánh mắt khiếp sợ và thành kính. Thần thoại suy nguyên với ý thức hệ thần linh chủ nghĩa hoàn toàn phù hợp với việc phản ánh trình độ tư duy, khả năng phân tích và cung cách ứng xử của con người với tự nhiên thời kì đó. Dầ n dầ n quá trình lao động sản xuất giúp con người ngày mô ̣t hiểu rõ hơn về tự nhiên. Thay vì việc khiếp sợ tự nhiên, con người học cách chung sống hài hòa với tự nhiên.
Có thể nói, con người thời cổ trung đại không tách rời mình ra khỏi tự nhiên là do con trong thời kì đó còn sống chủ yếu vào nông nghiệp, họ chưa nhìn nhận tự nhiên như là một đối tượng để khai thác, chiếm hữu mà chủ yếu sống hài hòa trong quan hệ “nhất thể”. Văn học trung đại với mảng sáng tác đồng quê đã thể hiện rõ quan hệ “thiên nhân tương dữ”, “thiên địa vạn vật nhất thể” đó. 6 c Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn Sự xuất hiện bước đầ u của khoa học kĩ thuật ở thời kì Phục hưng, chính thức đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của con người trong việc khai phá thiên giới. Cho phép con người thoát khỏi nỗi sơ ̣ haĩ thế giới thầ n linh; cho phép con người nhin ̀ ra những khả năng của chính mình và đă ̣t mình vào trung tâm của các giá tri.̣ Cách ứng xử với tự nhiên cũng theo đó mà thay đổi.
Tuy nhiên chỉ đế n thế kỷ Ánh sáng, khi tư duy lý tính lên ngôi, do khoa học kỹ thuâ ̣t phát triể n thêm một bước thì mố i quan hê ̣ con người-tự nhiên mới thực sự có biế n đổ i lớn. Con người coi thiên nhiên là khách thể mà mình có thể chiếm lĩnh, trinh phục và thống trị. Gurevits đã viết rất thuyết phục như sau: Sự phát triển của dân cư thành thị với mọt phong cách tư duy mới, duy lí hơn bắt đầu làm biến đổi cách cảm thụ thiên nhiên truyền thống. Con người sống trong những điều kiện của văn minh đô thị đã hình thành ít phụ thuộc hơn vào những nhịp độ của tự nhiên, nó tách mình ra khỏi tự nhiên dứt khoát hơn, nó bắt đầu quan hệ với tự nhiên như là với khách thể [9, 96].
Nhưng càng ngày, thực tế càng cho thấy, sự tác động của con người lên thế giới tự nhiên đã dẫn đến hàng loạt những hiện tượng biến đổi đang có nguy cơ đe dọa đến chính sự tồn tại của con người. Đó chính là “sự trả thù của giới tự nhiên” với sự tàn phá khốc liệt của con người. Sống cách chúng ta hàng trăm năm, Ănghen đã sớm nhận ra được vị trí cũng như những sai lầm của con người trong mối quan hệ với tự nhiên: Chúng ta hoàn toàn không thống trị được giới tự nhiên như một kẻ xâm lược đi thống trị một dân tộc khác. Bởi lẽ: Chúng ta nằm trong lòng giới tự nhiên và tất cả sự thống trị của chúng ta đối với tất cả các sinh vật khác là chúng ta nhận thức được các quy luật của giới tự nhiên và có thể sử dụng được những quy luật đó một cách chính xác.
Và quan trọng hơn cả là con người “không nên quá tự hào 7 c Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn về những lần thắng lợi của chúng ta với giới tự nhiên. Bởi vì, cứ mỗi lần ta đạt được thắng lợi là một lần giới tự nhiên trả thù lại chúng ta” [14, 187]. Nguy cơ sinh thái được xem là một trong những đe dọa nghiêm trọng nhất đối với sự sống của con người ở thế kỉ XX được đưa lên bàn nghị sự. Cốt lõi của vấn đề nằm ở chỗ, nguy cơ sinh thái có nguồn gốc không phải ở bản thân hệ sinh thái mà chính là ở hệ thống văn hóa của con người.
Cụ thể là ở cách ứng xử, cách tương tác của con người với môi trường thiên nhiên. Đây là nguyên do dẫn đến sự ra đời của khoa sinh thái học mà phê bình sinh thái là một bộ phận cấu thành. Sinh thái học (Ecology) được hình thành từ giữa những năm 30 của thế kỉ XX. Thuật ngữ này có nguồn gốc từ chữ Hy Lạp, bao gồm hai phần là “Oikos” chỉ nơi sinh sống và “Logos” là học thuyết.
Sinh thái học được hiểu theo nghĩa hẹp là khoa học về nơi ở. Phát triển rộng ra là khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa sinh vật với môi trường xung quanh. Như vậy sinh thái học là học thuyết về nơi sinh sống của sinh vật, là môn học về quan hệ tương hỗ sinh vật và môi trường hay chính là khoa học về môi sinh (Environmental Biology) [14, 18]. Vai trò của môn khoa học này nhanh chóng được khẳng định ở cả lí luận và thực tiễn.
Cụ thể là: Về lí luận: sinh thái học giúp con người hiểu biết sâu hơn về bản chất của sự sống trong mối tương tác với các yếu tố của môi trường. Từ đó, tạo ra nguyên tắc và định hướng cho các hoạt động của con người với thiên nhiên để phát triển nền văn minh ngày càng hiện đại. Về thực tiễn: sinh thái học giúp nâng cao năng suất, hạn chế, tiêu diệt dịch bệnh, bảo vệ đời sống sinh vật, khai thác hợp lí tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của sinh vật (trong đó có con người). 8 c Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn Hệ sinh thái được cấu thành bởi sinh thái học tự nhiên và sinh thái học nhân văn.
Con người trong hệ sinh thái tự nhiên được nghiên cứu về nguồn gốc, sự thích nghi cũng như sự tương tác của con người với các yếu tố tự nhiên. Con người trong hệ sinh thái nhân văn được nghiên cứu ở mối quan hệ qua lại và sự tác động lẫn nhau giữa con người với nhau trong môi trường sống và giữa môi trường xã hội và môi trường tự nhiên. Tính nhân văn của môi trường được thể hiện ở dấu ấn của con người ảnh hưởng lên thế giới tự nhiên. Đến những năm 70 của thế kỉ, trước cuộc khủng hoảng sinh thái mang tính toàn cầu, Chủ nghĩa Sinh thái đã được ra đời đánh dấu mốc bởi Tuyên ngôn môi trường nhân loại.
Tuyên ngôn được Hội nghị môi trường Liên Hợp Quốc thông qua năm 1972 với nội dung chính nói về nguy cơ của cuộc khủng hoảng môi trường chưa từng có trong lịch sử nhân loại. Tiếp đó khi khái niệm “deep ecology” – “sinh thái học sâu” được Naess phát minh ra thì vấn đề về sinh thái tinh thần của con người đã có một tư tưởng sâu sắc. Từ đó Sinh thái học được xuyên qua rất nhiều những nhánh nghiên cứu nhỏ: triết học sinh thái, chính trị sinh thái, luân lí học sinh thái, tâm lí học sinh thái , nhân loại nhân văn sinh thái… Người đầ u tiên đươ ̣c coi là ho ̣c giả phê bình sinh thái là Chery Glotfelty. Bà đã đưa ra mô ̣t đinh ̣ nghiã về phê bình văn ho ̣c sinh thái và đươ ̣c nhiề u người chấp nhâ ̣n là: “phê bình bàn về mối quan hệ giữa văn học và tự nhiên” [34].
Chery Glotfelty đã trở thành học giả đầu tiên được mang danh hiệu “giáo sư môi trường”. Như vâ ̣y, Phê bình văn ho ̣c sinh thái là sự kết hợp giữa Sinh thái học với Văn học nghệ thuật giống như Phê bình Văn hóa học hay Phê bình Phân tâm học. Nhưng “Phê bình sinh thái không phải đem phương pháp nghiên cứu sinh thái học, sinh vật hóa học, toán học hoặc phương pháp nghiên cứu của bất kì khoa học tự nhiên nào khác vào phân tích văn học, “nó chỉ dẫn nhập quan niệm cơ bản nhất của triết học sinh thái vào phê bình văn học mà thôi” [34]. 9 c Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn Mă ̣t khác, khái niê ̣m Phê bình văn ho ̣c sinh thái cũng mă ̣c nhiên xác đinh ̣ đố i tươ ̣ng của nó là văn học sinh thái.
Ở thời kì đầu của phê bình văn ho ̣c sinh thái thì các tác phẩm được coi là Văn học sinh thái là những tác phẩm miêu tả phong cảnh tự nhiên, hay sự gắn kết của con người với nơi chốn qua đó thể hiện tình yêu thiên nhiên của tác giả. Nhưng qua quá trình phát triển, thấy rõ được vai trò của phê bình sinh thái trong việc thay đổi cũng như tái hình thành quan hệ hòa hợp giữa con người với tự nhiên thì nô ̣i hàm của văn học sinh thái được mở rộng. Văn học sinh thái có thể hiểu là những tác phẩm văn học viết về mối quan hệ giữa con người với môi trường, cách con người tương tác với môi trường, và về nguy cơ sinh thái do phương thức tác động không tương thích của con người đế n môi trường số ng. Cách hiểu này cho phép những tác phẩm thoạt nhìn không có hình tượng con người hay không miêu tả về tự nhiên nhưng chỉ cần có căn nguyên văn hóa tư tưởng dẫn đến nguy cơ sinh thái, chỉ cần có ảnh hưởng đến quan hệ giữa con người với tự nhiên có thể “gia nhâ ̣p” vào văn học sinh thái.
Như vậy, phê bình văn ho ̣c sinh thái được ra đời trước yêu cầu cấp thiết của nguy cơ khủng hoảng môi trường sinh thái, và có nhiê ̣m vu ̣ phân tích các tác phẩm văn chương và đưa ra cảnh báo về môi trường. Bằng cách phân tích các diễn ngôn về thiên nhiên và môi trường để tác động đến tâm thức cũng như điều chỉnh nhận thức của con người. Khắc phục những ngộ nhận về môi trường để từ đó có những hành động đúng đắn hơn, hướng đến sự phát triển bền vững. Đồng thời và quan trọng hơn cả là xây dựng một chủ nghĩa nhân văn mới mà ở đó con người biết nghe tiếng nói của thiên nhiên ta ̣o ra mô ̣t mố i quan hê ̣ hài hòa cho con người và tự nhiên.