mở đầu cho Thi học Thiền gia” của Phương Lựu, Tư tưởng sùng thượng thiên nhiên trong Thơ Nôm Nguyễn Trãi của tác giả Lê Nguyên Cẩn. Có thể thấy các nhà nghiên cứu trên về cơ bản chỉ đưa ra vấn đề con người trong thiên nhiên, ít những công trình nghiên cứu vận dụng kĩ, sâu trong tác phẩm văn học cụ thể đứng trên góc độ sinh thái học. Năm 2011, Viện Văn học tổ chức một buổi thuyết trình về phê bình sinh thái. Karen Thronber sang Việt Nam trong khuôn khổ Hội thảo quốc tế 2011 “Tiếp cận văn học châu Á từ lí thuyết phương Tây hiện đại: vận dụng, tương thích, thách thức và cơ hội” [42, tr.
Tại Viện Văn học, bà cũng đã có buổi giảng giới thiệu về Ecocriticism. Bài giảng Ecocriticism của Karen Thornber tại Viện Văn học vào tháng 3 năm 2011 giới thiệu môt cách tổng quan về bản chất, ý nghĩa và tiến trình của nghiên cứu văn chương môi trường và sau đó phân tích 6 điểm cơ bản mà phê bình sinh thái quan tâm [42, tr. Nguyễn Tịnh Thy trong bài “Phê bình sinh thái - nhìn từ lí thuyết giải cấu trúc” (2013) đã nhìn thấy cảm quan hậu hiện đại biểu hiện rất rõ ở đặc điểm giải cấu trúc qua những đặc trưng: Cái chết của chủ thể, tính đối thoại. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong bài “Cần tìm hiểu sự chuyển hướng của phê bình sinh thái” (2015), Phương Lựu lưu ý viết về phê bình sinh thái đã đưa vấn đề “phê bình sinh thái về công bằng hoàn cảnh” (thuật ngữ của T.Reed) vào tư tưởng học thuật của mình.
Bài giới thiệu “Khuynh hướng phê bình sinh thái trong nghiên cứu văn học”, Lê Lưu Oanh, Trần Thị Ánh Nguyệt ( 2016), đã giới thiệu một cách khái quát về phê bình sinh thái như một khuynh hướng nghiên cứu văn học khả năng động hiện nay và những hướng nghiên cứu cụ thể của phong trào này. Trần Thúy Anh trong công trình Ứng xử của người Việt đồng bằng châu thổ Bắc Bộ qua tục ngữ, ca dao (2011) đã phân tích những phương thức ứng xử đối với tự nhiên trong tục ngữ, ca dao từ đó đề xuất việc cần xây dựng đạo đức sinh thái trong việc đối xử với tự nhiên. Trong bài viết Mùa xuân, sinh thái và văn chương (2013), từ gợi dẫn truyện ngắn Muối của rừng (Nguyễn Huy Thiệp), Huỳnh Như Phương cho rằng “văn học tham gia vào việc bảo vệ sức khỏe môi trường cũng là bảo vệ chính con người và những giá trị thuộc về con người”. Phê bình sinh thái là một khuynh hướng phê bình đang phát triển sôi nổi khắp nơi, đặc biệt là ở Anh, Mỹ.
Đây là một lí thuyết liên ngành, kết hợp giữa văn học và khoa học, giữa phân tích văn chương và rút ra những cảnh báo về môi trường. Ở Việt Nam, khuynh hướng nghiên cứu văn chương từ lí thuyết phê bình sinh thái hiện nay vẫn còn mới mẻ và hạn hữu. Mặc dù số lượng tác phẩm văn học sinh thái của nước ta còn rất ít, nhưng vấn đề sinh thái với muôn hình vạn trạng vẫn luôn nhức nhối và được thể hiện đậm nhạt qua từng giai đoạn. Đặc biệt, những năm gần đây, trên văn đàn Việt Nam đã xuất hiện nhiều tác phẩm mang thông điệp về nguy cơ tồn vong của sinh loài và môi trường sống đang dần bị hủy hoại dưới bàn tay vô tình của chính con người.
Chiến tranh suốt ba mươi năm có tính chất hủy diệt (Ruộng đã khô, nhà đã cháy, thành phố đã tan hoang) đã để lại những tổn thất về môi trường dài lâu mà con người chưa thể khắc phục ngay được. Những nỗi đau da cam hiện diện đang bào mòn nhiều thế hệ và đã ngấm ngầm tàn phá môi trường với những cánh rừng trơ trụi, nhiễm độc đất đai, nguồn nước… 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mặt khác, trong vài thập kỷ gần đây dân số tăng nhanh nên nhu cầu về thức ăn và nơi ở rất lớn. Trong quá trình công nghiệp hóa, con người đã xem thiên nhiên như là thứ vô tri nên mặc sức khai thác nó, tác động vào nó theo mục đích riêng mà không tính đến những hậu quả lâu dài về mặt môi trường. Để đáp ứng nhu cầu dân số ngày một tăng thì kèm theo tài nguyên môi trường ngày càng bị khai thác một cách ồ ạt, chính điều đó đã đẩy con người phải đối mặt với những hiểm họa môi trường ngày càng lớn dần.
Con người càng cố gắng để cải thiện cuộc sống thì cũng vô tình lại hủy hoại môi trường sống của chính mình. Sự tăng trưởng nóng đã khiến môi trường tự nhiên bị đe dọa, con người phải đối mặt với nhiều vấn đề của mặt trái văn minh đô thị và nhận thấy còn quá ít tài nguyên, nguồn thực phẩm, sức khỏe bị đe dọa. Từ đó, mối lo lắng hiện lên hàng ngày và mang tính toàn cầu về sự suy giảm tới mức báo động về mỏ quặng, không khí, nước, suy giảm tầng ôzôn, ô nhiễm biển… Từ đó, có thể thấy mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên đang là mối quan tâm hàng đầu không chỉ đối với các nhà nghiên cứu mà hầu như đối với tất cả mọi người đang sống trên trái đất này. Như vậy, có thể thấy vấn đề đang báo động hiện nay chính là sự suy thoái nghiêm trọng về mặt sinh thái và cách thức của con người ứng xử với tự nhiên, sự can thiệp quá mức và “thô bạo” của con người vào giới tự nhiên khiến cho chúng không đủ sức chịu đựng nên đã dẫn đến sự mất cân bằng và ổn định vốn có của nó.
Hiện nay, ngày càng có nhiều tai biến thiên nhiên xảy ra và đã để lại những hậu quả vô cùng xấu cho xã hội loài người. Trong đó con người vừa là thủ phạm gây ra các vấn đề về môi trường và cũng chính con người lại vừa là nạn nhân của các hiểm họa đó. Bởi vậy, con người cần phải thay đổi cách ứng xử với tự nhiên để tìm lại sự bình đẳng trong mối quan hệ với tự nhiên để nhằm đảm bảo sự ổn định cho môi trường sống của chính con người. Dấu hiệu để nhận biết tác phẩm dưới góc nhìn phê bình sinh thái Thứ nhất, khi tác phẩm từ bỏ cái nhìn mang tính ẩn dụ về tự nhiên để viết với ý thức sinh thái.
Văn học sinh thái chống lại sự nhân hóa tự nhiên. Khác với các truyền thống về thế giới tự nhiên, chỉ có một nhân vật xuyên suốt câu chuyện, 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chỉ có một tiếng nói cất lên sau hình tượng đó, tiếng nói mà con người phú cho. Ngược lại, trong các truyện sinh thái, bên cạnh thế giới con người là thế giới muông thú với những tình cảm, tính cách, cá tính… rất riêng. Tự nhiên có sinh mệnh độc lập, có địa vị bên ngoài tồn tại khách quan với con người.
Thứ hai, văn học sinh thái lấy chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái làm cơ sở tư tưởng, lấy lợi ích chỉnh thể của hệ thống sinh thái làm giá trị cao nhất để xem xét và biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và truy tìm nguồn gốc xã hội của nguy cơ sinh thái. Thực chất, mối quan hệ giữa con người và sinh thái là mối quan hệ cộng sinh, do vậy tác phẩm viết về mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên phải có quan điểm sinh thái. Lấy tư tưởng “sinh thái là trung tâm” không phải là tư tưởng hạ thấp con người mà thực ra lợi ích của sinh thái suy cho cùng cũng là lợi ích bền vững của nhân loại. Vấn đề biến đổi khí hậu, nguy cơ sinh thái là vấn đề của toàn cầu chứ không phải là vấn đề riêng lẻ của mỗi quốc gia dân tộc.
Thứ ba, cân bằng tự nhiên cũng đảm bảo cho cân bằng xã hội. Đó là lí do vì sao văn học sinh thái tích hợp với các vấn đề xã hội: giới tính (sinh thái nữ quyền, chủng tộc, giai cấp, xã hội). Văn học sinh thái chú trọng đến trách nhiệm của con người đối với tự nhiên, khẩn thiết kêu gọi bảo vệ vạn vật trong tự nhiên và duy trì cân bằng sinh thái. Văn học sinh thái đưa ra trách nhiệm của con người đối với tự nhiên thành định hướng đạo đức chủ yếu.
Đạo đức không phải chỉ trong mối quan hệ giữa con người với nhau mà với việc anh ta đối xử với thế giới xung quanh ra sao. Từ đó nhận diện những mẫu hình nhân cách mới cho chủ nghĩa nhân văn: con người cần tôn trọng, yêu thương, hòa đồng với thế giới tự nhiên, thân thiện loài vật để điều chỉnh đạo đức của mình. Hành trình sáng tác của Ma Văn Kháng 1. Đời văn Ma Văn Kháng Ma Văn Kháng tên thật là Đinh Trọng Đoàn, người dân tộc Kinh, sinh ngày 01 tháng 12 năm 1936 tại nhà thương Ái Mỗ, trấn Sơn Lộc, tỉnh lỵ Sơn Tây cũ.
Quê gốc ở làng Kim Liên, thuộc Kẻ Chợ, nay là phường Phương Liên, quận Đống Đa, Hà Nội. Hiện nay, Ma Văn Kháng ở Quận Ba Đình, Hà Nội. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thoát li tham gia cách mạng từ khi mới 12 tuổi, trưởng thành qua hai cuộc kháng chiến, thuộc thế hệ nhà văn xuất hiện từ những năm 60 của thế kỷ trước. Con đường đời, con đường nghệ thuật của ông có những mốc lớn gắn liền với sự kiện lịch sử của đất nước.
Là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, Hội viên Hội nhà văn Việt Nam (1974). Ma Văn Kháng đã tham gia tổ chức thiếu sinh quân ngay từ thời niên thiếu, rồi được cử đi học ở khu học xá Việt Nam tại Trung Quốc. Năm 1954, kháng chiến chống Pháp thắng lợi, hòa bình được lập lại ở Miền Bắc. Theo tiếng gọi của Tổ quốc, Đinh Trọng Đoàn đã xung phong lên Tây Bắc và được cử đi dạy học ở Lào Cai.
Năm 1960, ông trở về và vào học trường Đại học Sư phạm Hà Nội I. Năm 1964, sau khi tốt nghiệp Đại học Sư phạm, ông trở lại Lào Cai dạy học và từng làm Hiệu trưởng trường trung học. Cũng chính tại mảnh đất Lào Cai - “Miền đất vàng” trong một lần đi công tác ở nông thôn, Đinh Trọng Đoàn đã làm quen với ông Ma Văn Nho, rồi hai người đã kết nghĩa anh em, Đinh Trọng Đoàn đã cải tên họ thành Ma Văn Kháng.