Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA TỔ CHỨC TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài VHTC, VHNT là những nội dung đã được quan tâm nghiên cứu từ rất lâu ở trên thế giới. Lí thuyết cấu trúc - chức năng của Talcott Parsons trong xã hội học văn hóa đã nhìn nhận văn hóa như một chỉnh thể toàn vẹn, có tính độc lập tương đối và có mối quan hệ chặt chẽ với các bộ phận khác trong hệ thống xã hội.
Theo ông, bất kì một hệ thống nào trong xã hội đều có những nét nổi bật chung và nhằm hoạt động thành công như một hệ thống, những điều kiện tiên quyết nhất định phải được thực hiện theo thứ tự tầm quan trọng tăng dần: Thích nghi - Đạt được mục tiêu - Thống nhất - Duy trì kiểu mẫu. Trong đó, điều kiện cuối cùng chính là các giá trị làm nên nền văn hóa của hệ thống xã hội. Chính hệ thống văn hóa giữ vai trò kiểm soát các phương diện khác (Dẫn theo Mai Thị Kim Thanh) [14]. Dưới góc độ VHTC, tác giả Schein, E.H đã nghiên cứu một cách chi tiết về VHTC, các cấp độ cũng như biểu hiện của VHTC, sự hình thành và phát triển của văn hóa trong các loại hình tổ chức khác nhau.
Đồng thời, nhà nghiên cứu cũng phân tích cụ thể vai trò lãnh đạo trong xây dựng, thay đổi nhằm phát triển, cải thiện văn hóa của tổ chức. VHTC bao gồm 3 cấp độ: 1) Những quá trình và cấu trúc hữu hình (Artifacts), 2) Hệ thống giá trị được tuyên bố (Espoused values); 3) Những quan niệm chung (Basic underlying assumption) [25]. Một tác giả khác cũng có nhiều đóng góp trong nghiên cứu VHTC là Geert Hofstede. Tác giả đưa ra các chiều đo VHTC, trên cơ sở đó phân tích sự khác nhau giữa văn hóa của các tổ chức, các quốc gia.
Năm chiều đo kích thước văn hóa Geert Hofstede đưa ra bao gồm: khoảng cách quyền lực (Power distance); chủ nghĩa cá nhân (Individulism); nam tính hay nữ tính 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Những nghiên cứu của ông cho đến nay vẫn là vấn đề được quan tâm tranh luận, đồng thời có những nghiên cứu trực tuyến sử dụng năm chiều đo kích thước văn hóa để đánh giá văn hóa của các quốc gia trên toàn cầu [22]. Hai tác giả Cameron & Quinn nghiên cứu và đưa ra công cụ đánh giá VHTC. Công cụ đánh giá VHTC (OCAI) là một phương tiện khảo sát được nhiều nhà lãnh đạo sử dụng để tạo ra một hồ sơ VHTC nói chung.
Công cụ này đánh giá sáu chiều kích của VHTC, dựa trên bộ khung lý thuyết về việc các tổ chức vận hành như thế nào và văn hóa của các tổ chức ấy đặt nền tảng trên những giá trị gì. Bộ công cụ này xác định cả VHTC hiện hành lẫn VHTC mà người ta mong muốn có được trong tương lai. Bộ khung lý thuyết này có thể được dùng như một cách để chẩn đoán và đề xướng những thay đổi bước đầu trong VHTC mà các tổ chức tạo ra trên bước đường phát triển của họ, khi họ phải đương đầu với áp lực của môi trường bên ngoài [18]. Một số tác giả đã nghiên cứu về văn hóa hợp tác trong tổ chức nhà trường tại một số trường phổ thông của quận Dacle (bang Florida), Chicago và San Diego.
Các tác giả như: Rosenholtz (1989), Fullan và Hargreaves (1991), Lortie (1975), Aston và Web (1986), Fullan và Hargreaves (1991), Stein (1998), Lambert (1998), Fullan (2001), Dufour& Eaker (1998), Susan Jonson (1990), Hord (1998) và Levine (1990),. tiếp tục phát triển nghiên cứu theo hướng này nhằm đưa ra các biện pháp nhằm phát huy sự nỗ lực của giáo viên và các nhà quản lý để phát triển một văn hoá NT có tính hợp tác, chuyên nghiệp (dẫn theo Lê Thị Ngọc Thúy)[16]. Còn một nhóm tác giả khác như Cross, Bazon, Dennis và Isaac (1989); Issaac và Benjamin (1991); Davis (1997) lại đề cập đến xây dựng năng lực văn hóa trong nhà trường. Nghiên cứu của họ đã chỉ ra các thành phần của năng lực văn hóa; quá trình hình thành năng lực văn hóa và việc vận hành năng lực văn hoá trong các bối cảnh NT (dẫn theo Lê Thị Ngọc Thúy) [16].
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nghiên cứu về xây dựng văn hóa mạnh (strong culture) trong một tổ chức biết học hỏi (Learning Oganization) có các tác giả Ron Brandt (2003), Gladys Vivian Martoo (2006), Kelly, Luke và Green (2008)…. Họ đã phân tích những đặc điểm cơ bản của NT như một tổ chức biết học hỏi, cách thức để xây dựng lại NT thành một tổ chức biết học hỏi (dẫn theo Lê Thị Ngọc Thúy) [16]. Nghiên cứu về xây dựng không khí NT lành mạnh và hiệu quả, các tác giả Pace và Stern,1958; Halpin và Croft, 1963; Denison, 1996; Hoy, 1997… đã chỉ ra khuôn khổ và khái niệm về không khí tổ chức trong NT; nhận diện các loại hình không khí học đường cơ bản và đánh giá không khí NT và xác định rõ VHNT và bầu không khí NT có những điểm đồng nhất nhưng VHNT được thể hiện sâu hơn so với bầu không khí NT (dẫn theo Lê Thị Ngọc Thúy) [16]. Nhìn chung các công trình nghiên cứu về VHTC hay VHNT ở nước ngoài thông hết sức phong phú và chưa thật sự đồng nhất.
Trong đó, việc xây dựng VHNT có thể được tiếp cận theo nhiều phương diện: xây dựng văn hóa hợp tác, xây dựng năng lực văn hoá trong NT, xây dựng bầu không khí NT, xây dựng văn hoá mạnh trong tổ chức. Những nghiên cứu ở trong nước VHTC cũng đã được nghiên cứu nhiều ở Việt Nam, tuy nhiên không phải là một nội dung độc lập mà chỉ là một nội dung nhỏ trong các nghiên cứu về khoa học tổ chức. Các tác giả Nguyễn Văn Dung, Phan Đình Quyền, Lê Việt Hưng trong cuốn VHTC và lãnh đạo (2010) đã đề cập về khái niệm VHTC và thể hiện quan hệ của văn hoá tổ chức với lãnh đạo, qua đó giải thích các hiện tượng trong tổ chức, và giúp các nhà lãnh đạo có hướng vận dụng để tạo ra tổ chức hiệu quả hơn. Các tác giả cũng phân tích văn hóa làm sáng tỏ sự phát sinh năng động các tiểu nhóm trong các tổ chức, chỉ ra các công nghệ mới tương tác với tổ chức thế nào[5].
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở Việt Nam hiện nay một số các nghiên cứu về VHNT được đề cập theo các xu hướng sau: Quản lý NT theo tiếp cận VHNT : các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Phạm Thành Nghị, Lê Tiến Hùng, Phạm Quang Huân, Phan Thị Hoa Hương, Lê Hiển Dương, Trần Quốc Thành, … tập trung vào phân tích những quan niệm của các tác giả nước ngoài về VHNT và đưa ra một số giải pháp cho các NT phổ thông hiện nay ở Việt Nam ở các vấn đề như vai trò của người quản lý trong việc kiến thiết và phát triển môi trường văn hóa lành mạnh và hiệu quả; vai trò của VHNT trong việc giúp NT đạt được mục tiêu trong thời kỳ hội nhập thông qua việc hình thành khả năng tư duy chiến lược của NT; quản lý sự phát triển VHNT chính là tác động để tạo ra sự dịch chuyển các cấp độ của VHNT v. Tất cả những quan niệm này mới chỉ dừng ở việc mô tả mà chưa phân tích sâu vào bản chất của VHNT, chưa xác định được nếu thay đổi bất cứ một tiêu chí nào của VHNT thì sẽ thay đổi chính NT hiện có từ hệ thống giá trị, những hành vi và những cái đang diễn ra trong NT. Quản lý NT theo tiếp cận hệ thống giá trị văn hóa của NT của tác giả Phạm Minh Hạc nhấn mạnh đến việc xây dựng VHNT (hay còn gọi là văn hóa học đường) bằng giáo dục giá trị được thể hiện qua ba mặt của VHNT: cơ sở vật chất, môi trường giáo dục và giao tiếp ứng xử. Xây dựng một hệ giá trị trong NT để mọi thành viên đồng thuận lấy đó làm mục tiêu đạo đức xã hội, giá trị nhân cách hay chúng ta còn gọi là dạy người bên cạnh dạy chữ và dạy nghề [7,8].
Quản lý nhà trường thông qua xây dựng văn hóa học đường theo quan niệm của tác giả Vũ Dũng thì văn hóa học đường được đánh giá qua mối quan hệ ứng xử của các thành viên trong NT và môi trường sư phạm của NT. 1) Hành vi ứng xử của các chủ thể tham gia hoạt động đào tạo trong NT, là lối sống văn minh trong trường học. Văn hóa học đường như là một sự 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ứng xử thể hiện ở: ứng xử của người dạy và học; ứng xử giữa người lãnh đạo và giáo viên; ứng xử giữa các đồng nghiệp. 2) Xây dựng một môi trường sống văn minh, lịch sự.
Nó thể hiện ở chỗ: - NT phải là môi trường sống trong lành, sạch sẽ và không có tiếng ồn. - Môi trường mang yếu tố thẩm mỹ không chỉ thể hiện qua cách ăn mặc của thầy cô, của học sinh mà còn qua hình thức của ngôi trường, các phòng học, logo, biểu ngữ, khuôn viên NT. Quản lý NT theo mô hình văn hóa “trường học thân thiện, học sinh tích cực” của nhóm tác giả như: Phạm Văn Khanh, Lê Ngọc Việt, … lại phân tích mô hình văn hóa học đường dưới góc độ của mô hình trường học thân thiện, học sinh tích cực do Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động. Nhìn chung, những quan niệm, định nghĩa được các tác giả đưa ra còn chưa hệ thống và chưa đi sâu vào bản chất thực sự của VHNT.
Hiện nay đang có một số cách hiểu về VHTC trong vấn đề của quản lý NT như sau: Một là đồng nghĩa văn hóa với các hoạt động cơ bản, bề nổi của giao tiếp như: nghe, nói, đọc, viết. Còn có bề sâu của nó là ứng xử, là cách thức nhìn nhận, những quan điểm về cuộc sống, công việc và thời gian. Hai là coi văn hóa là sự đã rồi và không thể, không cách nào thay đổi. Ba là quan niệm VHNT là thứ quá trừu tượng để bàn và ưu tiên cho những thứ thực dụng hơn.
Bốn là coi văn hóa là sản phẩm từ bên ngoài và nếu muốn áp dụng thì NT chỉ cần áp dụng một mô hình nào đó được coi là thành công để đưa vào tổ chức của mình. Năm là hiện nay các NT đều không có VHNT và bây giờ đang phải xây dựng. Đây là một hạn chế trong quá trình phát triển VHNT.